Bánh Phu Thê Đình Bảng

22/12/2017 15:29

(kbchn) - Bánh Phu Thê không phải chỉ có ở Đình Bảng Bắc Ninh mà phổ biến rộng rãi khắp nơi tại miền Bắc. Người ta tin rằng nếu trong lễ cưới hay dạm hỏi không có bánh Phu Thê thì lại mất đi phần ý nghĩa. Tác giả mời bạn cùng tìm hiểu ý nghĩa và lịch

Chuyện vợ chồng trong nhân gian thì muôn hình câu chuyện. Văn hóa dân tộc chúng ta có chuyện trầu cau mà hầu như người Việt Nam đầu biết. Nhưng nói chuyện vợ chồng qua thức ăn có lẽ chỉ có Bắc Ninh với bánh phu thê của làng Đình Bảng. Bánh không chỉ mang thực tế món ăn khoái khẩu mà còn mang tính văn hóa gian dân trong tục lễ cưới gả.

Bánh Phu Thê không phải chỉ có ở Đình Bảng Bắc Ninh mà phổ biến rộng rãi khắp nơi tại miền Bắc. Người ta tin rằng nếu trong lễ cưới hay dạm hỏi không có bánh Phu Thê thì lại mất đi phần ý nghĩa. Tác giả mời bạn cùng tìm hiểu ý nghĩa và lịch sử tục lệ bánh Phu Thê.

 

Ở Bắc Ninh có một ngôi làng được mệnh danh là” làng làm bánh hỏi vợ cho thiên hạ”, Bởi lẽ, bánh của làng này là một trong lễ vật không thể thiếu trong đám cưới hỏi của người Kinh Bắc, như một biểu tượng chung thủy của lứa đôi.

Nhà văn Thạch Lam đã từng viết về vị bánh thế này: Cái tên kỳ khôi này ở đâu mà ra?

Thứ bột vàng và trong như hổ phách ấy, dẻo và quánh dưới hàm răng, là một thứ bánh rất ngon. Dù sao, cũng là một thứ bột thẳng thắn, vì nó dễ cho ta đoán trước để mà thèm thuồng những cái ngon ngọt hơn ẩn náu bên trong. Qua cái màu vàng óng ánh ấy, màu trắng của sợi dừa và màu vàng nhạt của đậu thêm một sắc nóng ấm và thân mật.

Tôi bao giờ cũng ưa thức ăn nào có một hình sắc đẹp đẽ cái đẹp lúc trông ngắm giúp nhiều cho cái thưởng thức lúc ăn lắm. Đó chính là bánh Phu Thê.

Nếu đã có dịp đến thăm Đền Đô, phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh chắc hẳn không ai còn xa lạ với món bánh có cái tên độc đáo này. Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh sự ra đời của tên bánh. Có người kể rằng, khi vua Lý Anh Tông xuất chinh, hoàng hậu chính tay vào bếp làm ra món bánh gửi theo chồng đi đánh trận. Vua ăn thấy ngon, nghĩ đến tình vợ chồng đã đặt tên bánh là phu thê, hay bánh xu xuê theo cách gọi ở nhiều vùng khác.

 

Truyền thuyết khác lại cho rằng, trong một lần hội làng ở Đình Bảng, Lý Thánh Tông cùng vợ là Nguyên phi Ỷ Lan về quê lễ ở Đền Đô đã được dân làng dâng bánh phu thê để thưởng thức. Sau khi thưởng thức, Đức vua và Nguyên Phi đều phải khen ngon.

Người cho rằng nếu được ăn bánh thì gia đình sẽ hạnh phúc hơn. Bởi thế, ngày nay không ít các gia đình muốn dựng vợ gả chồng cho con cái đều đến Đình Bảng để đặt bánh phu thê làm lễ hỏi.

Trái ngược với vẻ yên bình của làng quê bên ngoài cánh cửa là khung cảnh nhộn nhịp

bên trong những gia đình làm bánh phu thê truyền thống. Mỗi người một việc, người làm nhân, trộn bột, người rửa lá, buộc dây. Có chứng kiến đủ công đoạn làm bánh mới thấy được người làng Đình Bảng khéo léo đến mức nào.

Chiếc bánh nhỏ chừng lòng bàn tay, nhìn tưởng đơn giản nhưng phải qua rất nhiều công đoạn. Bột làm bánh phải được làm từ gạo nếp cái hoa vàng, giã tay hoặc xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước rồi phơi khô. Để làm nên màu vàng đặc trưng của vỏ bánh phu thê, người Đình Bảng tuyệt nhiên không dùng phẩm mà lấy nước quả dành dành để tạo màu. Nhân bánh là đỗ xanh ngâm kỹ, đãi vỏ, đem đồ và thắng đường cát. Khi gói bánh, người thợ trộn thêm sợi đu đủ khô để tạo độ dai và thêm sợi dừa nạo để bánh có vị ngậy. Nhân bánh cũng thường được thêm hạt sen để tạo vị thơm ngon, hấp dẫn khi cần.Nhân đỗ sau khi nặn tròn được đặt trong vỏ bánh hình vuông và gói lại bằng hai lớp lá, bên trong là lớp lá chuối chống dính, ngoài cùng lá lớp lá dong. Người ta còn quét lên lá một lớp mỡ để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặc trưng. Bánh sau khi gói được đem luộc dưới bếp lửa than vừa lửa. Bánh chín vớt ra, ép nước giống bánh chưng rồi gói thành từng đôi một.

Những căp bánh gửi gắm biết bao triết lý, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan không chỉ riêng của người Đình Bảng. Nhân tròn, bánh vuông như biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương. Bột dàn mỏng, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình phu thê. Lá gói xanh tượng trưng cho sự chung thủy, lạt buộc hồng mô phỏng sợi tơ hồng kết nối, bánh màu vàng thể hiện tình yêu thương của vợ đối với chồng. Bánh được bóc ra tỏa mùi hương mát dịu khắp sân. Sau lớp lá đổi màu vì nước luộc là lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt bên trong. Chỉ cần cắn một miếng nhỏ là có thể cảm nhận được độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường… hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh.

Lá dừa ôm bột lọc trong,

Ngọt ngào thơm nhụy đậu xanh ứng vàng.

Phu Thê vui chuyện xóm làng,

Mừng nhau tác hợp thiếp chàng hòa duyên.

 

 

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

;
lên đầu trang