Chiếc cầu của các nhà đầu tư

20/04/2018 08:38

(kbchn) - Trong lĩnh vực tư vấn, Investconsult Group là một trong những doanh nghiệp tư vấn hàng đầu ở Việt Nam. Nguyễn Trần Bạt cho rằng, bằng kinh nghiệm và hiểu biết của mình, ông và các cộng sự là người bắc chiếc cầu cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Investconsult Group hiện nay có 250 cán bộ và trên 100 cộng tác viên làm việc tại Hà Nội (trụ sở chính), TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

Nguyễn Trần Bạt, doanh nhân đang làm cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

PTH: Ông có thể giới thiệu đôi nét về InvestConsult?

NTB: Chúng tôi có 7 đơn vị thành viên. Chúng tôi cung cấp dịch vụ trong 3 lĩnh vực. Thứ nhất là dịch vụ về dự án kinh tế. Trong lĩnh vực này chúng tôi có 3 công ty con, 1 công ty chuyên làm các dự án ODA, 1 công ty chuyên làm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, công ty thứ 3 cung cấp các giải pháp xí nghiệp tức là hỗ trợ các xí nghiệp ví dụ như là cấu trúc lại doanh nghiệp. Lĩnh vực dịch vụ thứ 2 của chúng tôi là Luật. Chúng tôi đã thành lập một công ty Luật từ lâu rồi. Công ty Luật của chúng tôi có lẽ là công ty Luật lớn nhất Việt Nam. Hiện nay công ty này có khoảng gần 70 luật sư và khách hàng của nó có nhiều cỡ, từ hãng Boeing của Mỹ cho đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Những máy bay của Vietnam Airlines bay ở Việt Nam có sự tham gia của chúng tôi vào các hợp đồng bán, thuê, mua... Lĩnh vực thứ ba là lĩnh vực IP tức là dịch vụ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ, cũng có 3 tổ chức, một công ty chuyên bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp, một công ty chống vi phạm, công ty thứ ba là công ty chuyên làm marketing cho các thương hiệu hoặc các sản phẩm. Tôi là Phó chủ tịch Hiệp hội sở hữu trí tuệ Việt Nam. Ngoài ra chúng tôi còn có Viện nghiên cứu khoa học. Đây là viện nghiên cứu tư nhân đầu tiên, tên chính thức của nó là Viện Nghiên cứu Phát triển Investconsult. Với chừng ấy đơn vị thành viên, trong nhiều năm qua, chúng tôi là những người nỗ lực bắc chiếc cầu cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

PTH: Ông vừa nói đến viện nghiên cứu trực thuộc Công ty, vậy thủ tục thành lập Viện nghiên cứu tư nhân có khó không?

NTB: Không, thủ tục của tôi kỳ lạ lắm. Chính phủ có một nghị định gọi là Nghị định 35 về công tác quản lý khoa học và công nghệ nhưng tôi nghĩ là nó không phù hợp với khuôn khổ của chúng tôi và tôi không đăng ký theo cách ấy. Trong một buổi giao lưu, gặp gỡ với Tổng bí thư Lê Khả Phiêu khoảng tháng 11/1999, ở Trung tâm Hội nghị quốc tế, số 11 - Lê Hồng Phong tôi có hỏi ông ấy là tôi muốn thành lập một viện nghiên cứu tư nhân có được không? Tôi thấy bây giờ tất cả những chính sách đều không được phản biện một cách chuyên nghiệp, chúng ta cũng lấy ý kiến nhân dân nhưng thăm dò ý kiến nhân dân và phản biện một cách khoa học là hai việc hoàn toàn khác nhau.

Những lời kêu la, góp ý của nhân dân không phải là phản biện khoa học. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu có nói là: "Tôi hoàn toàn ủng hộ". Hôm sau Thông tấn xã Việt Nam đã đăng cái tin ấy. Như vậy, sự ủng hộ của Tổng bí thư chính là sự phê chuẩn lớn nhất. Tôi đã hỏi ý kiến các anh em trong công ty là các anh em có thích nghiên cứu khoa học không. Nếu các anh em thích thì các anh em làm một đề nghị vì quyền nghiên cứu khoa học là một quyền hợp Hiến chứ không chỉ là quyền hợp pháp. Nhân dân đề nghị và Tổng bí thư phê chuẩn thì tôi quyết định thành lập và Viện Nghiên cứu Phát triển Investconsult của tôi ra đời.

Tôi có trả lời phỏng vấn trên báo Nghiên cứu Lập pháp của Văn phòng Quốc hội rằng tôi rất thận trọng trong những việc như thế. Lúc bấy giờ tôi có nói với Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng tất cả những kết quả nghiên cứu khoa học của tôi, tôi sẽ dâng lên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi không có bài nào đưa lên các trang web nước ngoài. Tôi chỉ đăng trên các tạp chí chính thống của Việt Nam và xuất bản một cách đàng hoàng trên lãnh thổ Việt Nam. Còn chuyện gửi lên các trang web bên ngoài trong điều kiện xã hội chúng ta khi chưa rõ ràng về mặt pháp lý thì tôi không làm.

PTH: Sau khi hoàn thành dự án, ông trình thì ai ký, ai cho ra cái pháp nhân đó?

NTB: Không, đây không phải là một pháp nhân. Nghiên cứu là quyền của tôi, là quyền hợp hiến, tôi thích thì tôi làm. Không có bộ luật nào ở Việt Nam quy định việc thành lập các cơ sở nghiên cứu khoa học cả mà chỉ có quyền nghiên cứu khoa học của một tập thể có sẵn. Quyền nghiên cứu khoa học đã được Hiến pháp cho phép rồi thì cớ gì phải có một quyết định của một bộ nào cho phép làm chuyện ấy?

PTH: Ông có thể giới thiệu các sản phẩm của Viện?

NTB: Những quyển sách đã xuất bản là sản phẩm của Viện. Nó còn có những tạp chí nội bộ. Vì luật báo chí chưa cho phép xuất bản báo chí tư nhân nên tôi buộc phải làm tạp chí nội bộ. Các bộ phận như bộ phận Sở hữu trí tuệ, bộ phận Luật... vừa là công ty làm ăn vừa tổng kết kinh nghiệm làm ăn vừa nghiên cứu khoa học. Viện nghiên cứu có bộ máy thường trực của nó, khoảng 20 người. Có thư viện vào khoảng 10 ngàn đầu sách, đó là một thư viện tư nhân khá quy mô ở Việt Nam.

PTH: Viện của ông có nhận các đề tài nghiên cứu của nhà nước không?

NTB: Không. Về nguyên tắc tôi không nhận bất cứ một thứ gì từ ngân sách nhà nước. Tôi làm việc với tư cách là một công ty không liên quan gì đến ngân sách của nhà nước nhưng ngân sách của các công ty nhà nước thì có. Tôi có một Hội đồng các cố vấn khoa học, đó hầu hết là những nhà lý luận hoặc hoạt động nhà nước đã về hưu. Chúng tôi cộng tác rất chặt chẽ với họ. Bằng những kinh nghiệm hoạt động nhà nước, hoạt động xã hội, họ thay mặt xã hội đặt ra các vấn đề. Khi họ đặt ra các vấn đề thì chúng tôi nghiên cứu, chúng tôi làm rõ những vấn đề ấy và viết thông qua các ấn phẩm, các bài viết. Cán bộ của chúng tôi có các bài viết đăng trên nhiều tạp chí quan trọng kể cả những tạp chí chính thống của Đảng cộng sản Việt Nam như tạp chí Thông tin và Lý luận của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

PTH: Ông có thể giới thiệu với bạn đọc đôi nét về mình?

NTB: Tôi học nhiều thứ nhưng xuất phát điểm là tôi học văn. Năm 1967, khi ra khỏi bộ đội vì lý do sức khỏe, tôi học Đại học Xây dựng, chuyên ngành Cầu đường. Đến năm 1989 tôi học Luật. Trước đó, song song với học xây dựng thì tôi có học toán, học nhiều thứ.

Tôi đi thanh niên xung phong năm 1963. Năm 1964 thì đi bộ đội. Năm 1967 ra khỏi bộ đội và đi học lại. Năm 1972 tốt nghiệp đại học xong rồi lại vào bộ đội, ra khỏi bộ độ một cách thật sự năm 1976. Sau khi ra khỏi bộ đội, tôi về Viện Khoa học Công nghệ Giao thông Vận tải. Ở đó tôi là quyền chủ nhiệm Bộ môn Nền móng và công trình ngầm. Tôi làm ở đó từ năm 1976 đến năm 1984. Năm 1984 đến năm 1985 tôi làm việc tại "Hội Xây dựng Việt Nam” và khởi xướng thành lập "Trung tâm hỗ trợ các hoạt động Sỡ hữu công nghiệp", tiền thân của Công ty dịch vụ Sở hữu trí tuệ - Investip của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày nay. Năm 1989 tôi chuyển sang Viện Khoa học Việt Nam và thành lập Công ty Tư vấn Đầu tư Invesconsult. Năm 1992, sau khi Luật Công ty ra đời, tôi chuyển đổi Investconsult thành Công ty TNHH, tức Investconsult Group ngày nay.

PTH: Tiêu chí tuyển nhân viên của công ty là gì? Trong cuộc phỏng vấn tuyển dụng, ông coi trọng điều gì?

NTB: Tiêu chí tuyển nhân viên của công ty trước tiên phải học những ngành mà công ty cần, sau đó qua một cuộc phỏng vấn về nhân cách, ứng xử. Chúng tôi nhấn mạnh một số thứ rất chủ yếu. Thứ nhất là lòng trung thành và chí tiến thủ vì có lòng trung thành mà không có chí tiến thủ thì không phát triển được, có chí tiến thủ mà không có lòng trung thành thì không hợp tác lâu dài được. Thứ hai là có trình độ chuyên môn tốt nhưng cũng phải có kinh nghiệm ứng xử đối với cuộc sống, bởi nghề chúng tôi là nghề tư vấn tức là nói vào tai thiên hạ các lẽ phải để lấy tiền, thế nên phải biết nói như thế nào. Thẳng thắn quá, cương trực quá thì nói được với ít cái tai hơn, cho nên vừa phải thông thái vừa phải khôn khéo.

Đấy là điều lý tưởng chúng tôi mong muốn như thế chứ thực ra thì cũng có người không đạt được mức như vậy. Nhưng bộ máy lãnh đạo thì buộc phải hội đủ tiêu chuẩn như vậy để biết rõ người lao động như thế nào, dùng vào công việc gì cho thích hợp. Tôi luôn xem phẩm chất quan trọng nhất của một con người là ý thức tổ chức cuộc đời của anh ta như thế nào. Người mà không tổ chức tích cực được cuộc đời của mình thì khó có thể đóng góp một cách tích cực cho cuộc sống được. Tôi tuyển chọn cán bộ bao giờ cũng bắt đầu bằng cách xem khả năng sắp xếp tổ chức cuộc sống riêng tư như thế nào.

PTH: Cách tìm hiểu của ông về vấn đề đó như thế nào?

NTB: Phải phỏng vấn, phải quan sát. Ví dụ tiêu biểu là tôi có thể hỏi về bố mẹ anh ta. Bao giờ bố mẹ cũng phản ánh lên con cái những dấu ấn, những dấu ấn ấy vô cùng quan trọng và không trộn lẫn vào đâu được. Con anh này khác con anh kia một cách rất rõ ràng. Nếu anh thiếu hiểu biết về âm nhạc thì khi nghe Beethoven anh ta sẽ nhầm với Mozart. Nhưng một khi anh nghe và anh biết cả hai thì anh không thể nhầm được. Năng lực cơ bản của con người là năng lực tổ chức cuộc sống cá nhân. Nhưng năng lực ấy hoàn toàn có thể trở thành một cái bẫy, nếu anh là một kẻ ích kỷ.

Một người có đủ năng lực tổ chức cuộc sống cá nhân, có sự khoáng đạt của một con người yêu cuộc sống thì họ sẽ đem đến cho cuộc sống đúng năng lực tổ chức cuộc sống của họ. Còn ngược lại, những anh chỉ yêu cuộc sống một cách khoáng đạt nhưng không có năng lực tổ chức cuộc sống của mình thì chỉ trở thành những con bướm bay lởn vởn dưới hạnh phúc của người khác mà không phải của mình. Điều đấy là vô cùng quan trọng đối với việc tuyển chọn cán bộ. Làm lý luận chỉ là một chuyện, nhưng nếu như người ta không có đủ cái từng trải, đủ kinh nghiệm, đủ thông thái để tạo ra cuộc sống thì người ta không có ích cho ai cả.

PTH: Ông có rất nhiều cán bộ, nhân viên và như vậy thì ông không thể biết tất cả mọi người có tổ chức tốt cuộc sống của mình hay không. Trong một cuộc phỏng vấn họ có thể nói rằng tôi rất hạnh phúc chẳng hạn. Vậy ông làm thế nào để thẩm định?

NTB: Người ta có tự do đến với tôi và tự do đi ra khỏi tôi. Nếu tôi đòi hỏi điều họ không có thì họ sẽ đi, chỉ có những ai có điều tôi mong ước thì họ ở lại. Tự do của người lao động ở nước chúng ta cũng như ở trên toàn thế giới là đến và đi. Phạm trù tự do đến và đi không chỉ đối với một công ty mà đối với cả quốc gia, tôi có viết điều đó trong các quyển sách của tôi. Một nền kinh tế năng động là một nền kinh tế tạo ra năng lực dịch chuyển một cách năng động của tất cả các nguồn phát triển trong đó có nguồn lao động. Tôi phê phán lối của người Nhật trong việc tổ chức lao động, tức là 3 - 4 thế hệ cống hiến cho một công ty. Người châu Á tự hào, coi đó là một điểm mạnh. Tôi coi đó là điểm kém nhất của người châu Á.

Anh không đổi mới được văn hoá trong một xí nghiệp thì làm sao anh tạo ra sự phát triển của xí nghiệp được. Do vậy, sự phát triển của xí nghiệp không phải để tiếp tục đầu tư tiền bạc vào một xí nghiệp mà là sự đầu tư tiền bạc trên sự sáng tạo của người lao động, mà người lao động chỉ có thể sáng tạo được một khi họ luôn luôn được đổi mới về các giá trị tinh thần. Một cơ sở không có đổi mới về các giá trị tinh thần thì cơ sở ấy không thể phát triển được. Một quốc gia không cởi mở, không đổi mới thường xuyên các giá trị tinh thần thì quốc gia ấy cũng không thể nào phát triển được.

PTH: Ông có thể cho biết mức thu nhập bình quân của nhân viên trong công ty?

NTB: Tôi có thể nói rằng nếu ai đó mơ tới chủ nghĩa xã hội thì hình như ở đây chúng tôi có nó rồi. Mức sống của chúng tôi là mức sống của chủ nghĩa xã hội theo định nghĩa tiêu chuẩn của Lenin, tức là chúng tôi có mức sống khá giả, anh em chúng tôi vui vẻ, không ai cảm thấy tủi thân khi làm nhân viên, không ai cảm thấy tự mãn khi làm quan chức. Cuộc sống của họ vừa bình dị về mặt tinh thần, vừa dễ chịu về mặt vật chất. Ở đây tôi khuyến khích mọi người học tập. Ngay cả các lái xe của tôi cũng theo học khoa Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân. Tôi cho rằng lái xe hay bảo vệ đều là con người. Họ có vợ, có con, họ cần phải tổ chức ra niềm tự hào về người cha, người chồng đối với con họ, vợ họ.

PTH: Thế có nghĩa là ông luôn thiết lập niềm tự hào trong mỗi con người. Đó phải chăng là một phần của văn hóa công ty?

NTB: Đúng thế.

PTH: Xin cảm ơn ông!

(Tháng Tư năm 2006)

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang