Chùa Dâu '' địa chỉ đỏ" trong nền văn hiến Kinh Bắc

20/12/2017 16:20

(kbchn) - Chỉ với một cây tháp thôi, đã đủ thấy chùa Dâu uy nghi, nổi tiếng đến mức nào. Nhưng không chỉ có vậy, với những gì được phản ánh qua các thư tịch cổ (kể cả của Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc)

Dù ai buôn đâu bán đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về...

Chỉ với một cây tháp thôi, đã đủ thấy chùa Dâu uy nghi, nổi tiếng đến mức nào. Nhưng không chỉ có vậy, với những gì được phản ánh qua các thư tịch cổ (kể cả của Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc), những truyền thuyết, chuyện kể dân gian vẫn lưu truyền và những hiện vật đang còn hiện hữu, chùa Dâu thật sự là một pho sử dày dặn, một “địa chỉ đỏ” trong nền văn hiến Kinh Bắc, bởi nơi đây chính là trung tâm Phật giáo đầu tiên và lớn nhất Việt Nam với gần hai nghìn năm tuổi.

 

Chùa Dâu có tên chữ là Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng và Thiên Định tự, là Tổ đình đầu tiên của Phật giáo Việt Nam, được khởi dựng từ thời kỳ thuộc Hán (thế kỷ thứ II sau công nguyên) và xây dựng với quy mô lớn vào đời nhà Trần (Thế kỷ thứ XIV) trên diện tích đất 15.000 m2 (đo đạc năm 1962, khi được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia) tại địa phận xã Khương Tự, tổng Khương Từ, xứ Kinh Bắc xưa. Thời thuộc Hán, có tên là Luy Lâu (hoặc Liên Lâu), là thủ phủ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của quận Giao Chỉ và Giao Châu suốt khoảng 700, 800 năm (từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ IX, thứ X), nay là xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Thủ đô Hà Nội 30 km. Có thể về đây theo nhiều đường: Xuôi quốc lộ 5 (cũ) theo hướng đi Hải Phòng, rồi rẽ vào, hoặc theo quốc lộ I đến Bắc Ninh, rồi xuôi xuống theo quốc lộ số 38...

Được khởi dựng cách đây gần 2000 năm, chắc trước đó đã qua không ít lần tu sửa. Hơn 1000 năm sau, vào năm 1313, với sự hưng công của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, chùa Dâu được trùng tu và mở rộng với quy mô lớn, trong đó có công trình tháp Hòa Phong cao 9 tầng, cầu đá dài 9 nhịp (chắc là bắc qua sông Dâu để vào chùa). Nay thì cầu 9 nhịp đã mất và không còn dấu vết. Tháp Hòa Phong cũng đổ nát, được xây lại vào năm 1737, đời vua Lê Ý Tông và chỉ còn 3 tầng, rồi các hạng mục khác tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trong các năm 1763, 1781, 1815, 1826, 1831, 1859, 1872, 1890, 1921... gần đây nhất, năm 2004, chùa Dâu được nhà nước đầu tư một khoản kinh phí lớn, trùng tu toàn bộ các công trình hiện có, nhưng vẫn giữ nguyên được vóc dáng cổ xưa với các hạng mục chính: Hệ thống giao thông xung quanh và trong khuôn viên chùa, hệ thống cổng, cửa, sân, hành lang, tường bao, tam quan, tòa Tiền tế, tháp Hòa Phong, tòa Tiền đường, tòa Thiêu hương, tòa Thượng điện, tòa Tam bảo hậu (Hậu đường), hai dãy hành lang hậu nối từ tòa Tiền đường đến Tam bảo hậu (nơi thờ 18 vị La Hán), nhà khách, nhà thờ Tổ và thờ Mẫu, vườn tháp mộ và nhiều hạng mục công trình phụ trợ khác.

Mặc dù được xây dựng từ thế kỷ thứ II sau công nguyên, nhưng cũng như các ngôi chùa cổ khác, chùa Dâu vẫn thờ các nhóm tượng theo phong tục tín ngưỡng thờ tự các thần (thiên thần) hoặc các nhóm thần không có thật ngoài đời như: Tứ Trấn, Hộ Pháp, Kim Cương, thập điện Diêm vương, Lục bộ Công Tào, Phật và Bồ Tát, các vị La Hán, Tứ Pháp, đức Thánh Tải, Kim Đồng, Ngọc Nữ... và một số nhân thần (Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Bà Trắng (mang họ Nguyễn) và Bà Đỏ (Nguyễn Thị Cảo), mẹ đẻ và nhũ mẫu của chúa An Đô Vương Trịnh Cương...

Xin điểm qua lai lịch một số nhân vật được thờ tại chùa.

Bà Dâu (Pháp Vân), nhân vật chính được thờ tại chùa Dâu.

Chuyện xưa kể rằng, vào thế kỷ II sau công nguyên, trên núi Mả Mang (nay là núi Phật Tích, nơi có chùa Phật Tích nổi tiếng không kém chùa Dâu, thuộc địa phận xã Phật Tích, huyện Tiên Du, cùng tỉnh Bắc Ninh) có cây dung thụ già. Một đêm mưa gió, cây Dung thụ bị đổ, theo dòng nước trôi về sông Dâu. Khi trôi đến bến Vân Đình, gần thành Luy Lâu, cây cứ cuốn lại, không trôi tiếp nữa.

Cũng đêm ấy, Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp thấy thần nhân báo mộng phải tìm thợ giỏi, lấy gỗ cây dung thụ tạc thành tượng Tứ Pháp để thờ.

Sĩ Nhiếp y lời. Khi pho tượng thứ nhất tạc xong, thì trên trời hiện ra đám mây ngũ sắc, Sĩ Nhiếp liền đặt tên pho tượng mà Pháp Vân và đưa vào thờ tại chùa Diên Ứng (chùa Dâu)...

Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, người xã Lũng Đông, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, đỗ Trạng nguyên năm 1304, đời vua Trần Anh Tông.

Ông được thờ tại chùa Dâu vì đã hưng công xây dựng tháp chín tầng (tháp Hòa Phong) và cầu đá chín nhịp.

Tương truyền, cha mẹ Mạc Đĩnh Chi làm nhiều điều tội lỗi. Khi thành đạt, ông đánh đồng thiếp xuống âm phủ tìm hiểu đời sống của cha mẹ dưới đó, thấy cha mẹ đang bị giam trong ngục tối. Năm 1313, ông bỏ tiền của hưng công xây tháp Hòa Phong và cầu chín nhịp để tạ tội cho cha mẹ. Công việc hoàn thành, ông được tạc tượng thờ trong chùa...

Ở Chùa Dâu, còn nhiều cái hay, cái lạ, sự huyền bí và các truyền thuyết dân gian hấp dẫn khác. Mời du khách về thăm, thắp hương cầu Phật và tiếp tục tìm hiểu...

 

Tòa Tiền tế (Bái Vọng đường), phía sau là tháp Hòa Phong

 

 

Giếng nước cổ, nhà thờ Tổ và thờ mẫu

 

Tháp Hòa Phong

 

 

Bà Dâu (nữ thần Pháp Vân), nhân vật chính được thờ tại chùa Dâu

 

 

 

Tượng các vị La Hán được thờ trong chùa

 

Mạc Đĩnh Chi, một trong những nhân thần được thờ tại chùa Dâu

 

 

Bia “Hòa Phong tháp bi ký”, sóc đá, cừu đá - những hiện vật nguyên gốc được trưng bày phía trước tháp Hòa Phong

 

Nét kiến trúc chùa Dâu

 

 

Vườn tháp mộ

 

Dấu vết thời gian trên một trong số các cổng còn lại của chùa Dâu

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

;
lên đầu trang