Cù Lao Chàm không xa...

21/06/2020 23:30

Lần giở từ điển, tôi thật bất ngờ khi danh từ “cù lao” có hai nghĩa trái ngược nhau. Một nói về hình thái địa lý, một là nói về tình cảm con người. “Cù lao” nghĩa là: Khoảng đất nằm giữa sông do bồi đắp của một dòng chảy lâu ngày và cỏ cây mọc nhiều. “Cù lao” còn là cồn đất giữa biển, nếu không quá xa đất liền.

Ngoài ra “cù lao” còn có nghĩa là công nuôi dưỡng vất vả của cha mẹ. Như trong câu ca: “Công dưỡng dục, đức cù lao - Bên tình, bên hiếu bên nào nặng hơn”. Thế thì tôi ghép cả 2 nghĩa này cho Cù Lao Chàm là “Ốc đảo yêu thương”. Dân ở đây có câu ca: “Ra Lao đốn Lũy thật Dài - Chờ mùa Khô lá, xuống Tai chịu Nồm”. Lao, Lũy, Khô, Tai, Nồm là tên các hòn đảo được đặt theo hình dáng và các thảm thực vật. Trong sách “Phủ  biên tạp lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: “Phủ Thăng Hoa ở ngoài biển Cửa Đại Chiêm có núi to gọi là Cù Lao Chàm, ba ngọn nối nhau, hai ngọn lớn và xanh tốt có dân cư ruộng, nương... Chạy từ bờ ra đó cách chừng 2 canh thì đến”. Chúng tôi đến bến tàu Cửa Đại lúc 8 giờ sáng và xuống ca nô cao tốc có áo phao cứu sinh. Đặc biệt, hướng dẫn viên người nào da cũng đen cháy rất niềm nở và không quên dặn câu cửa miệng: “Xin mời quý khách bỏ các thứ cần dùng vào túi vải chứ không được mang theo túi nylon”. Thì ra ở Cù Lao Chàm có một quy định rất nghiêm ngặt là khách du lịch và người dân trên đảo không được dùng túi nylon. Sau khoảng 20 phút, ca nô cao tốc đến cầu cảng Cù Lao Chàm cách khoảng 15 hải lý. Do vị trí cách Hội An không xa và thẳng góc một đường chiếu nên Cù Lao Chàm còn được gọi là “bình phong” che trước thương cảng Hội An. Theo chân hướng dẫn viên, tôi tò mò khám phá Cù Lao Chàm theo cách riêng và ý thích tìm hiểu của mình.

1. Bắt đầu là bí ẩn giếng cổ trên Cù Lao Chàm. Đó là giếng Xóm Cấm. Giếng cổ Chăm ở Cù Lao Chàm là giếng nước ngọt duy nhất ở vùng đất này. Người dân đã thử đào giếng ở nơi khác, tuy nhiên đều không tìm được mạch nước ngọt. Cấu trúc giếng mang đặc trưng giống với nhiều kiểu giếng Chăm ở Hội An. Giếng có kiểu hình ống tròn, thành giếng hình vuông, nền giếng hình vuông, ở mỗi góc có một trụ vuông. Diện tích khuôn giếng khoảng 15m2, đường kính miệng giếng khoảng 1,2m, lòng giếng xây gạch tô vữa vôi, xây theo kiểu vành khăn, độ sâu từ miệng giếng đến đáy giếng khoảng 5m. Tôi bất ngờ gặp nhiều cặp trai gái chia cho nhau từng ngụm nước ngọt múc từ cái giếng độc đáo này. Thì ra ở đây còn lưu truyền câu chuyện uống nước giếng cổ Cù Lao Chàm để cầu tình duyên. Trường hợp những người chưa có người yêu thì con trai uống 7 ngụm nước, con gái uống 9 ngụm nước, tình yêu sẽ đến. Uống nước giếng còn có thể sinh con theo ý muốn. Theo kinh nghiệm của người dân nơi này, khi người ra Cù Lao Chàm bị say sóng, lấy nước giếng nấu với lá rừng chỉ người địa phương biết uống vào sẽ hết say...

Điều bí ẩn thứ hai ở Cù Lao Chàm mà trước khi ra đây tôi được nghe nói nhiều về chùa Hải Tạng. Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) ở vị trí cách nơi này khoảng 200m. Nhưng sau đó do bị bão gió hư hại nặng và để tiện cho các tín đồ là ngư dân trên đảo và thương thuyền các nước ghé vào hành lễ cung kính cầu xin thuận lợi làm ăn buôn bán, nên đến năm Tự Đức nguyên niên (1848) chùa dời về đây tôn tạo lại khang trang hơn. Ở vị trí phong thủy lý tưởng này, chùa tọa lạc ở chân núi phía tây hòn Lao, nhìn thẳng vào núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngự. Phía trước có thung lũng nhỏ là cánh đồng lúa duy nhất ở Cù Lao Chàm. 

Xung quanh câu chuyện xây chùa có nhiều huyền thoại bí ẩn. Bác xe ôm cho tôi biết: Tương truyền các cây cột được vận chuyển từ ngoài Bắc đem vào làm một chùa nào đó ở trong Nam. Nhưng khi đi ngang qua Cù Lao Chàm, trời tối nên phải neo thuyền nghỉ lại. Sáng mai thuyền tiếp tục lên đường nhưng thật lạ, biển tự nhiên dậy sóng, thuyền cứ xoay tròn lòng vòng không đi được ra khỏi Cù Lao Chàm. Người trong đoàn lên cúng xin keo cho hay, số gỗ này không được đem đi mà phải để lại dựng chùa ở nơi này. Vì thế, chùa được dựng lên và lấy tên là Hải Tạng. Tên chữ Hải Tạng mang một hàm ý đẹp: Kinh tạng của nhà Phật. Tên Hải Tạng còn được lý giải: Hải là biển, Tạng là Tam tạng kinh điển. Với ý nghĩa đó, chùa Hải Tạng là nơi hội tụ kinh Tam tạng mênh mông cho biển cả. Phía trước chùa có tượng Phật Quan Âm đứng trên đài sen giữa lòng hồ sen nhỏ, mặt hướng về biển Đông như che chở cho cuộc sống an lành của người dân. Đây là ngôi cổ tự với kiến trúc văn hóa Phật giáo độc đáo tiêu biểu cho vùng đất linh thiêng nằm ở phía đông Tổ quốc...

Giếng cổ ở Cù Lao Chàm.
Giếng cổ ở Cù Lao Chàm.

2. Đến Cù Lao Chàm, tôi bất ngờ được biết có một dấu ấn văn hóa của xứ đảo này đó là nghề đan võng ngô đồng truyền thống. Võng ngô đồng là thứ võng đặc biệt kể cả từ chất liệu đến công phu đan lát. Sợi đay xe lại của võng được làm từ sợi của thân cây ngô đồng chỉ mọc trên những mỏm núi cao vách đá cheo leo. Muốn đan được võng phải đốn cây ngô đồng còn non bằng nửa cổ tay người trưởng thành, không chọn cây lớn và già vì tước lấy manh đồng sẽ bị xơ, tưa và đứt từng khúc. Cây ngô đồng được đưa về đập ra dùng tay tước vỏ cứng và lấy sợi màu trắng đục gọi là manh đồng. Sau đó, những sợi manh đồng sẽ được ngâm trong nước khoảng vài ngày rồi mang đi giặt cho sạch và trắng, đem ra phơi nắng thật khô. Đến khi chuyển thành màu trắng ngà tinh mới có độ óng là lúc xơ có độ bền đẹp để đan võng. 

Đan võng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ kiên trì và cả tình yêu bền bỉ gửi gắm vào từng đường se mũi đan, phải miệt mài ngồi nhiều giờ mỗi ngày cẩn thận se lại từng múi rồi bện lại thành nhiều đốt. Đan xong một cái võng phải mất gần hai tháng ròng rã liên tục. Võng ngô đồng không chỉ êm bền mà nghe dân ở đây nói còn chữa được bệnh đau lưng giãn cột sống, vì vỏ cây ngô đồng có chất gì đó thấm vào da người và thư giãn có hiệu quả. Giá mỗi chiếc võng ở đây từ 3-4 triệu đồng, chủ yếu bán cho khách du lịch.  Không ngờ ở Cù Lao bãi đá này lại sinh ra cái loại cây để làm nguyên liệu cho một loại võng đặc biệt. Cái võng ngô đồng như một con thuyền mắc hai đầu từ biển vào đảo để neo cụ bà nghệ nhân lại đây hơn 70 năm và tuổi cái võng đầu tiên bà đan cũng đã bằng nửa từng ấy năm. Võng đã mềm bóng loáng mồ hôi mà chưa đứt xơ một múi hay mắt võng nào...

Cù Lao Chàm là một quần thể, trong đó đảo hòn Lao lớn nhất với khoảng gần 3.000 người sinh sống mang trong mình sự đa dạng sinh học vô cùng phong phú. Trong chương trình một ngày ở Cù Lao Chàm, chúng tôi được ngắm san hô ở bãi hòn Tai. Ca nô đậu cách bờ mấy chục mét cho khách du lịch khoác tấm áo phao mang ống thở úp mặt xuống làn nước trong xanh có cảm giác như mình đang lạc vào cõi thủy cung. Ở đó có những rặng san hô rực rỡ sinh động, rập rờn như một phần cơ thể sống phập phồng dưới làn nước. Có những con cá lượn lờ bơi quanh những con sao, con ốc đủ hình thù màu sắc. Đúng là bàn tay tạo hóa thiên nhiên thật kỳ diệu. Tôi nhận thấy nước biển ở đây trong xanh có thể nhìn thấy đáy sâu hai chục mét, cát ở đảo sạch đến độ đặt lưng ướt xuống rồi nhổm dậy thì những hạt cát rơi không bám chút bụi đất nào trên da. Ở đây còn có bãi tắm thoai thoải cát mịn, trên bờ là những hàng dừa xanh tỏa bóng mắc những chiếc võng đung đưa hay những chiếc ghế bạt cho khách du lịch sau khi ăn trưa nghỉ thoải mái. Các môn thể thao như: Dù lướt sóng hay đi bộ dưới biển ngắm kỳ quan của thiên nhiên cũng có sức hút với du khách nước ngoài và người trẻ.

Nghề đan võng ở Cù Lao Chàm.
Nghề đan võng ở Cù Lao Chàm.

3. Chúng tôi được thưởng thức bữa trưa ngay tại bãi Hương lộng gió và rợp mát bóng dừa. Thực đơn gồm 11 món, mâm nào cũng giống nhau, tây cũng như ta, bao gồm các loại hải sản tươi như cá, mực, nghêu, tôm và các loại rau củ sạch được trồng trên đảo. Một không khí chan hòa cởi mở giữa mọi người, không phân biệt màu da giọng nói, rất thân thiện. Tú - hướng dẫn viên - nói với tôi, đây là bữa trưa có sẵn trong vé tour, vì thế tuy phong phú nhưng khá đơn giản, anh muốn thưởng thức đặc sản Cù Lao Chàm thì lát nữa nghỉ trưa xong ra chợ Tân Hiệp em sẽ chỉ cho.

Chợ Tân Hiệp ở Cù Lao Chàm bán hải sản tươi rẻ mà không nói thách. Đầu tiên là món ốc vú nàng. Đó là trên đỉnh đầu ốc có cái nhúm nhỏ trong tựa như đầu vú của các cô gái dậy thì, vỏ ngoài màu đen xạm, mặt trong lấp lánh xà cừ. Luộc ốc chẳng cần tí nước nào, những con ốc vú nàng từ thân khá nhiều nước, tự nó đủ nước luộc lấy. Ông chủ quán giải thích: Dân bắt ốc chuyên nghiệp phải ngâm mình dưới nước hàng giờ, dùng đèn soi rọi vào tận kẽ đá rồi lấy mũi dao nhọn tách từng con ốc đang bám chặt vào thành đá. Ốc bắt về ngâm nước cho sạch, xếp vào nồi luộc. Trong giây lát, những con ốc vú nàng bắt đầu co dần thịt chuyển sang màu vàng mùi thơm tỏa ra là ốc chín. Tiếp đó, chúng tôi được thưởng thức món cua đá hấp bia. Người bắt cua đá ở đây thường bắt vào ban đêm vì ban ngày chúng ở trong hang. Ban đêm là thời gian cua đá ra khỏi hang để kiếm ăn, lúc đó chúng không nhìn thấy gì khi bị ánh sáng rọi vào. Ở Cù Lao Chàm, khi ánh nắng mặt trời tắt, những người bắt cua đá chuẩn bị đồ nghề lên đường cho một đêm thức trắng. Đây là một nghề bất trắc đòi hỏi phải có sức khỏe và sức chịu đựng bền bỉ. Cua đá hấp bia toàn thân ngấm một màu đỏ hồng như gạch, vỏ bóng loáng. Đặc biệt hai cái càng cua ngắn nhưng rất chắc, phải có cái chày hoặc kìm lớn để kẹp mới có thể lấy được phần thịt đầy bên trong; thớ thịt trắng xen những gân hồng nõn nà mà bùi ngọt, ăn thật thấm thía nhớ đời...

Tạm biệt Cù Lao Chàm, tôi mang về theo cái vỏ ốc lấp lánh ánh xà cừ có những đường vân chìm, nổi rất đẹp. Ruột ốc xoắn lượn cuộn vào đó làn gió nồng nàn của biển khơi. Và khi tôi giơ vỏ ốc lên, bất ngờ thảng thốt vọng ra tiếng gió u u thổi ngân vang. Tú bảo: Đó là ốc gọi hồn. Gọi hồn: Cù Lao Chàm ơi! Và có một Cù Lao Chàm bên mình, Cù Lao Chàm không xa dù tôi đã xa...

 

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang