KHẨU HIỆU CỦA NHỮNG CON ỄNH ƯƠNG NGỐC NGHẾCH

01/02/2018 15:17

(kbchn) - “Không Dùng Chữ Việt Cộng – Không Dùng Chữ Hán Việt”

Lắm lúc đọc thiên hạ dao to búa lớn vì những chuyện rất là nộng cạn,  chúng tôi không muốn can dự nhưng mật độ của những cuộc cãi cọ hầu như bất tận nếu cứ để yên thì không biết đến bao giờ những bộ óc hoang tưởng điên tồ mới tỉnh ra vì thế cực chẳng đã nên chúng tôi mới phải lên tiếng góp phần làm sáng tỏ phần nào ngành ngọn. 

 

Về vấn đề chữ Việt Cộng với Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi đã nói từ lâu làm gì có chữ Việt Cộng hay  chữ Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có một thứ Tiếng Việt, chữ Việt là ngôn ngữ chính thức tất cả mọi người sinh ra, sống trên đất nước Việt Nam từ Bắc chí Nam không phân biệt tôn giáo, chủ nghĩa, chính kiến, màu da, sắc tộc cũng đều được dạy viết và đọc từ thời thơ ấu và sử dụng trong suốt cuộc sinh tồn cho đến khi bước sang bên kia thế giới.

Sau khi miền Bắc cưỡng chiếm được miền Nam do sự khác biệt nhỏ giữa các “phương ngữ”, khác biệt về cách phát âm từng vùng, sự chênh lệch về văn hóa, văn minh, trình độ chữ nghĩa giới hạn do ăn học không kỹ nên người miền Bắc dùng chữ ngô nghê, ngớ ngẩn quá khiến thiên hạ khó chịu, tức cười. Kèm theo đó sự phân biệt đối xử của những kẻ chiến thắng với người chiến bại dẫn tới hiện tượng người miền Nam ngày nay ở hải ngoại có phong trào chia tiếng Việt, chữ Việt thành ba loại tiếng Việt Cộng, tiếng Việt Nam Cộng Hòa, tiếng Hán Việt. Theo những nhân vật quá nhiệt tình biểu diễn vở tuồng chống cộng cuội nên trở thành ngu dốt kêu gọi cộng đồng hải ngoại cần phải loại bỏ, cấm sử sụng  hai  loại chữ Việt đó là tiếng Việt Cộng, tiếng Hán Việt.

Thật ra ý tưởng chỉ dùng chữ VNCH hay miền Nam cương quyết tẩy chay chữ VC là việc làm ngu xuẩn của những người không hiểu gì về ngôn ngữ nên đưa ra khẩu hiệu có tính chất tự sát, hủy diệt ngôn ngữ Việt Nam.

 

Tiếng Việt, chữ Việt hiện nay có gần 100 triệu người xử dụng. Ở hải ngoại cố vơ vào may lắm được hai triệu người còn nói và dùng tiếng Việt, chữ Việt. Thế hệ một rưỡi và hai hầu như chỉ bập bẹ được vài câu vậy thì chắc chắn cái gọi là tiếng Việt Nam Cộng Hòa khoảng năm 2040 sẽ tự diệt chẳng còn ai dùng. Lúc đó chỉ còn lại tiếng Việt Cộng và tiếng Hán Việt độc bá trong lòng dân tộc Việt Nam.Nhưng nói như thế là nói đùa vì làm gì có tiếng và chữ Việt Cộng, Việt Nam Cộng Hòa, Hán Việt (Hán Việt chỉ là một bộ phận trong toàn thể ngôn ngữ Việt Nam). Dân tộc Việt Nam chỉ có một tiếng nói chính thống, chính thức là tiếng Việt. Chữ Việt thì có chữ Nôm (nay đã mai một) và nay tiếng Việt sử dụng ký tự la tinh trở thành chữ quốc ngữ do tiện dụng, dễ học dễ phát âm.

 

Tất nhiên tiếng Việt chưa thể gọi là hoàn hảo vì còn những khiếm khuyết nhỏ nhưng xét về đại thể cũng không cần sửa đổi mấy. Vấn đề là hiện nay sau hơn  trăm năm  hợp pháp hóa chữ quốc ngữ các chế độ quản trị đất nước Việt Nam vẫn chưa thành lập được  một Viện Hàn Lâm Việt Ngữ để xác định chuẩn mực của tiếng Việt  và chữ Việt. Giải thích những thắc mắc về biến thể, biến thái của nhiều chữ có hai cách viết khác biệt về chính tả ( châu= chu, võ = vũ, huỳnh=hoàng, hồng=hường, dòng- giòng, rõi-=dõi .......v..v).

Vì thế khi sử dụng ngôn ngữ Việt ngày nay nhiều lúc người ta chỉ phân biệt bằng quán  tính, cảm tính tự thấy dùng chữ này đúng, đẹp, tao nhã, chính xác hay dùng chữ kia là sai lầm, thô lậu, ngớ ngẩn mà thôi. Đi xa và sâu hơn để giải thích một chữ bằng căn ngữ, nguyên ngữ, phương ngữ, hệ ngữ thuộc lĩnh vực của những nhà chuyên môn về ngôn ngữ học. Tuy nhiên như thường thấy, những người kiến thức kém  cỏi về ngôn ngữ học lại là những kẻ to tiếng lao vào những cuộc tranh cãi vô bổ bất phân thắng bại, kết quả không làm sáng tỏ được điều gì nhưng lại đưa ra những khẩu hiệu bài xích kiểu Hồng Vệ Binh làm Cách Mạng Văn Hóa.

 

Tuy nhiên những nhà đấu tranh dóc tổ ở hải ngoại cần phải nhận thấy thực tế tại quốc nội hiện nay có hơn 90 triệu người sử dụng tiếng Việt, chữ Việt. Một ngôn ngữ của một dân tộc có gần trăm triệu người nói và viết hàng ngày là một “sinh ngữ” nên thường nảy sinh nhiều chữ mới, điều đó là quy luật không có gì phải ngạc nhiên để phê phán, chê bai. Nếu chưa biết ý nghĩa của những từ mới phát sinh thì nên học hỏi để làm giàu thêm vốn chữ nghĩa cho bản thân. Nếu quả thật có chữ Việt Cộng, tiếng Việt Cộng thì những người muốn cứu nước lại cần phải học để đọc thông, viết thạo tiếng Việt Cộng dùng vào việc tuyên  truyền thuyết phục quần chúng nghe theo chúng ta...... Vì nói và viết làm sao cho hơn 90 - 100 triệu người hiểu mới là vấn đề cần thiết quan trọng hơn là nói và viết cho hai triệu người ở hải ngoại đọc, hiểu chỉ để chửi bới chụp mũ lẫn nhau không cho dân bản xứ biết.

 

Vấn đề chống “Hán Hóa” bằng cách không dùng chữ Hán Việt thực ra cũng chỉ là một trò hề của “các nhà chống cộng cuội và dởm”. Tung ra khẩu hiệu điên rồ này chẳng khác gì Tần Thủy Hoàng đốt sách, Mao Trạch Đông phát động Cách Mạng Văn Hóa bằng Hồng Vệ Binh. Kết quả là những di sản văn hóa mấy nghìn năm phút chốc tan thành tro bụi. Chỉ có những loại người phi dân tộc. không chút hiểu biết về cổ sử, cội nguồn của dân tộc Việt Nam mới đưa ra ý kiến hủy hoại văn hóa dân tộc một cách ngu ngốc đến thế.

Sự thực cho đến nay những nhà ngôn ngữ học vẫn chưa xác định được Hán Tự hay chữ Hán, người Việt ta hay gọi là chữ Nho do dân tộc nào từng cư ngụ trong lưu vực Hoàng Hà- Dương Tử sáng tạo trong khi Bách Việt (Cổ Việt) là một đại tộc chiếm cứ hết địa vực phía Nam Trường Giang (Dương Tử), từ Động Đình Hồ đến Chiết Giang trong cái nôi phát tích tạo dựng ra và cùng chia xẻ nền văn hóa phương Đông bao gồm những quốc gia Hàn, Nhật, Việt hiện nay trong đó có Hán ngữ là nền tảng, vì thế dùng chữ “Hán hóa” hoàn toàn chưa chỉnh và đó chỉ là tư tưởng nô lệ của những kẻ ngu dốt, hiểu biết không tới về lịch sử hưng vong của những vương triều và sự phát triển văn minh, văn hóa phương Đông.

 

Nếu chúng ta nhìn vào thủy tổ của nhà Hán là Hán Cao Tổ Lưu Bang cùng Sở Bá Vương Hạng Võ đều xuất thân từ đất Giang Tô thuộc Sở Việt khởi nghĩa chống nhà Tần. Sau khi thành công quay ra tranh  quyền xưng bá, xưng vương tạo nên giai đoạn “Hán Sở tranh hùng” cuối cùng Hạng Võ thua bại, tự thẹn cắt đầu cho đình trưởng, không về Giang Đông. Lưu Bang chiến thắng thống nhất Trung Hoa lập nên nhà Hán nhưng ông ta vốn thuộc giòng dõi hòa huyết của Sở -Việt. Điều đó cho thấy Lưu Bang là người Việt và chữ Hán chỉ là tên của một triều đại từng cai trị Trung Hoa.

Khi Lưu Bang xây dựng Hán Triều thì Triệu Đà, tướng nhà Tần cử đi chinh phạt phương Nam thấy nhà Tần bại vong nên tự hùng cứ ở Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt tức nhà Triệu. Khởi đầu cho nền độc lập của Lạc Việt. Đầu thế kỷ thứ 15, năm 1428 sau cuộc kháng chiến của Lê Lợi đuổi Minh thành công giành lại độc lập cho Đại Việt, được lệnh Bình Định Vương viết áng kim cổ hùng văn “Bình Ngô Đại Cáo” Nguyễn Trãi đã chỉ rõ.

 

Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,

Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.

Duy ngã Đại Việt chi quốc,

Thực vi văn hiến chi bang.

Sơn xuyên chi phong vực ký thù,

Nam bắc chi phong tục diệc dị.

Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,[1]
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

 

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có…..

 

Tóm lại thái độ hùng hổ hô khẩu hiệu nhiều khi trở thành hành động lố bịch vì không được dẫn dắt chỉ đạo bởi những người có trình độ hiểu biết uyên thâm, kiến thức văn hóa bao quát. Người Việt Nam và toàn thể các dân tộc của mười mấy quốc gia có chung đường biên giới với Trung Hoa phải phòng ngừa mối họa bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán thì đúng nhưng khẩu hiệu chống Hán hóa của các nhà chống cộng dởm, cuội đã chắc gì là đúng......  Khi chữ Hán còn gọi là chữ Nho bao gồm có Hán Nho, Việt Nho.

Năm 1960 linh mục Lương Kim Định đã khởi nguồn khai sinh “Chủ Thuyết Việt Nho-An Vi” làm sáng tỏ hai điều:

 

 Một là, dân Bách Việt làm chủ lãnh thổ nước Tàu ngày nay trước người Tàu. (Lạc Việt là một  chi nhánh chính của Bách Việt, là Dân Tộc Việt Nam bây giờ. )

Hai là, dân Bách Việt có Văn Hoá đặc sắc, đã đặt NỀN MÓNG đầu tiên cho Nho Giáo sau này. Người Hán là dân du mục, chiếm đất đai , thâu nhận văn hoá Bách Việt, dùng chữ viết của họ viết nên Tứ Thư và Ngũ Kinh . Sau này ai cũng bị lầm là Tứ Thư và Ngũ Kinh là của Văn Hoá Tầu.    

 

Linh mục Kim Định đã khám phá được tính chất NỀN MÓNG của Việt Tộc trong sự đóng góp vào Văn Hoá Nho Giáo Nguyên Thuỷ. làm SÁNG TỎ yếu tố DU MỤC trong bản chất Hán tộc,  đã làm  SA ĐỌA Nho Nguyên Thuỷ của nền Văn Hoá NÔNG NGHIỆP của Tổ Tiên Việt Tộc.

Đếnthập niên 70, Tiến sĩ Wilheim Solheim II giáo sư Nhân Chủng học taị Đại học Hawaii, dùng  phương pháp phóng xạ Carbon 14 để  định tuổi các di chỉ khảo cổ trong cuộc thám quật Non Nok Tha ở biên giới Thái – Lào và Hang Thần ở Miến Điện, cho rằng người Hoà Bình, tức là Bắc Việt Nam,làm chủ nền Văn Minh Lúa Nước của các của chủng tộc Việt tại Đông Nam Á. Sau đó,  Hội nghị các Khoa học gia về khảo Cổ quốc tế 1978 tại Berkeley, công nhận chính miền Nam Trung Hoa là trung tâm văn hoá cổ nhất. Và càng gần Việt Nam bây giờ thì các công cụ có niên đại cổ hơn......  Tiếp theo tác phẩm nổi tiếng“ Eden in the East”( Địa Đàng ở Phương Đông) của Bác sĩ Stephen Oppenheimer năm 1997, dựa trên phương pháp kỹ thuật DNA của Di truyền học, và các ngành khác như: nhân chủng học, văn học dân gian, khảo cổ, hải dương học…để xác quyết “Đông Nam Á là cái nôi của Văn Minh Nhân Lọai”. Và đường di chuyển của người Đông Nam Á là từ NAM LÊN BẮC. Dưới sức ép của các khám phá khoa học kể trên, học giới xôn xao, đến nỗi chính quyền Trung Quốc  đã phải lên tiếng trong tờ Beijing Review, ấn bản tháng Ba,ngày 23 - 29, 1998 , mục “ Culture and Science”, trang 31, PHỦ NHẬN quyển “Sử Ký” của Tư Mã Thiên, là quyển sử cổ đại uy tín nhất của Trung Hoa KHÔNG ĐÚNG với sự thực lịch sử . Và bản tin này cũng chính thức xác nhận lịch sử dân tộc và văn hoá Trung Hoa BẮT NGUỒN TỪ PHƯƠNG NAM,  là các tỉnh thuộc tộc BÁCH VIỆT.

Những phát giác lịch sử  về nhân chủng học trên đây giải đáp thắc mắc tại sao tộc Bách Việt, Lạc Việt bị Trung Hoa đô hộ hàng nghìn năm nhưng không hề bị đồng hóa. Làm sao quý vị có thể làm biển mặn thêm với một dúm muối hay vài ký muối, vài tấn muối.

Nguồn cội văn hóa của dân tộc Việt Nam là Nho Việt, ngôn ngữ cao nhã dân tộc ta sử dụng xuất phát từ Nho Việt

Hiểm họa Hán hóa chỉ là sản phẩm của những bộ óc hoang tưởng đần độn. Không dùng chữ Hán Việt chỉ là cơn động kinh của một bọn người tha phương cầu thực lang bạt khắp thế giới không hề biết đến những di sản văn hóa giá trị của tổ  tiên..

 

Kim Âu

JAN 30/2017

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang