Kỹ thuật mới giúp tăng tỷ lệ thành công trong thụ tinh ống nghiệm

26/02/2020 13:40

Bơm huyết tương giàu tiểu cầu tự thân điều trị nội mạc tử cung mỏng được kỳ vọng tăng đến 50% tỷ lệ thành công trong thụ tinh ống nghiệm.

Ngày 21/02/2020 vừa qua, lần đầu tiên tại Việt Nam, Bộ Y tế đã cấp phép chính thức cho BVĐK Tâm Anh, Hà Nội nghiên cứu ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (Platelet-rich plasma, PRP) trong điều trị vô sinh hiếm muộn ở các trường hợp phụ nữ nội mạc tử cung mỏng, suy nội mạc, thất bại nhiều lần sau chuyển phôi… Phương pháp này được chính thức đưa vào nghiên cứu ứng dụng đã thắp lên niềm hy vọng mới cho hàng ngàn phụ nữ suy nội mạc tử cung, nội mạc mỏng, chuyển phôi thất bại, sảy thai liên tiếp - vốn chiếm đến 20% số phụ nữ vô sinh hiếm muộn.

PGS.TS.BS Lê Hoàng, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ sinh sản BVĐK Tâm Anh, Hà Nội chuẩn bị chuyển phôi cho bệnh nhân VSHM

Trên thế giới, tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là khoảng 40-45%. Tại Việt Nam, tỷ lệ này dao động ở 35-60%. Phần lớn phụ nữ làm IVF phải trải qua ít nhất 2 lần thực hiện kỹ thuật để có thể thành công. Tỷ lệ IVF thành công sẽ giảm dần từ 2-10% đối với phụ nữ có nội mạc tử cung mỏng, suy nội mạc, nếu may mắn có thai thì nguy cơ sảy thai cũng cao hơn rất nhiều.

“BVĐK Tâm Anh đã đạt tỷ lệ thành công sau thụ tinh ống nghiệm trung bình lên đến hơn 60%, nhưng với nhóm bệnh nhân niêm mạc mỏng, suy nội mạc..., dù đã áp dụng nhiều phương pháp điều trị nhưng tỷ lệ có thai và có thai kỳ thành công còn thấp, đó chính là rào cản ngăn ước mơ làm cha mẹ của rất nhiều cặp vợ chồng, là thách thức với các bác sĩ. Kỹ thuật mới như mở ra cho chúng tôi con đường mới, tươi sáng và chắc chắn dẫn đến thành công”, PGS.TS.BS Lê Hoàng, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ sinh sản BVĐK Tâm Anh, Hà Nội chia sẻ.

Được nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới, phương pháp bơm huyết tương giàu tiểu cầu tự thân vào buồng tử cung kết hợp với liệu pháp hormone ngoại sinh đã chứng minh được hiệu quả làm tăng độ dày niêm mạc tử cung rõ rệt, nhờ đó tăng tỷ lệ làm tổ và đậu thai.

Tại Trung Quốc, từ năm 2015, tiến sĩ Chang và cộng sự đã thực hiện trên 5 bệnh nhân đang làm TTTON, có độ dày NMTC < 7="" mm.="" bệnh="" nhân="" được="" truyền="" huyết="" tương="" giàu="" tiểu="" cầu="" tự="" thân="" vào="" trong="" tử="" cung="" và="" chuyển="" phôi="" khi="" nmtc="" có="" độ="" dày=""> 7 mm. Kết quả cho thấy, cả 5 bệnh nhân đều tăng độ dày NMTC, trong đó 4 bệnh nhân (80%) mang thai thành công.

Tại Iran vào năm 2017, tiến sĩ Zadehmodarres và cộng sự đã tuyển chọn 10 bệnh nhân có tiền sử phát triển nội mạc tử cung (NMTC) không đầy đủ trong chu kỳ chuyển phôi đông lạnh để thực hiện nghiên cứu. Bệnh nhân đã được truyền 0,5ml PRP 2 lần trước khi tiến hành chuyển phôi. Kết quả, tất cả bệnh nhân được truyền PRP đều tăng độ dày NMTC, trong đó có 5 người mang thai, tương đương 50% số bệnh nhân. Cũng tại Iran, tiến sĩ Farimani và cộng sự  đã thành công khi sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân để điều trị cho 1 phụ nữ Iran 45 tuổi đã gặp thất bại 2 lần TTTON và kết quả là bệnh nhân hạ sinh một bé trai khỏe mạnh.

Sau quá trình tách chiết, chế phẩm sinh học huyết tương giàu tiểu cầu đạt chất lượng cao nhất và an toàn khi sử dụng

Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân thu được thông qua quá trình lấy máu của chính bệnh nhân, xử lý bằng máy chuyên dụng để tách ly được thành phần tiểu cầu và làm giàu bằng các phương pháp kỹ thuật cao, do đó có lượng tiểu cầu nhiều gấp 2-10 lần so với huyết tương bình thường, có nhiều yếu tố tăng trưởng và Cytokin.

Khác với huyết tương giàu tiểu cầu có sẵn (thường được sử dụng trong các trị liệu thẩm mỹ), đây là chế phẩm sinh học tương thích nhất với cơ thể người bệnh, tránh được tình trạng thải ghép. Tuy nhiên, để có được huyết tương giàu tiểu cầu đảm bảo chất lượng cao nhất nhằm điều trị hiệu quả và an toàn cho người sử dụng, cần được thực hiện với các trang thiết bị máy móc chuyên dụng, đội ngũ chuyên gia cao cấp cùng hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt, đó cũng là những khuyến cáo cần thiết được các chuyên gia ở nhiều quốc gia như Ý, Iran, Trung Quốc, Ấn Độ, Venezuela nhắc tới trong các báo cáo khoa học về thành công của phương pháp hiện đại này.

Bác sĩ Lê Hoàng chia sẻ: “Chúng tôi có lợi thế lớn khi thực hiện nghiên cứu ứng dụng này, bởi ngay trong BVĐK Tâm Anh có cả Trung tâm Hỗ trợ sinh sản (IVFTA) và Trung tâm Tế Bào Gốc. Chúng tôi chủ động ngay từ khâu lấy mẫu máu của bệnh nhân, xử lý mẫu, sản xuất huyết tương giàu tiểu cầu tự thân ngay tại Trung tâm Tế Bào Gốc với hệ thống máy móc công nghệ cao, các chuyên gia giàu kinh nghiệm, quy trình thực hiện khép kín, liền mạch trong hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt. Từ đó, các bác sĩ điều trị hỗ trợ sinh sản hoàn toàn yên tâm về chất lượng huyết tương giàu tiểu cầu và độ an toàn khi sử dụng, đồng thời cũng rút ngắn được thời gian, đảm bảo về chất lượng và tiết kiệm được thời gian, chi phí cho người bệnh”.

Hệ thống thiết bị máy móc hiện đại tại Trung tâm Tế Bào Gốc BVĐK Tâm Anh giúp thực hiện việc sản xuất huyết tương giàu tiểu cầu tự thân cho chất lượng tốt nhất, giúp mang lại hiệu quả và sự an toàn cao khi sử dụng

“Tại IVF Tâm Anh, rất nhiều bệnh nhân tìm đến chúng tôi là những trường hợp khó, có bệnh lý phức tạp, người lớn tuổi có AMH thấp, thất bại nhiều lần ở các trung tâm khác; trong đó nhóm nguyên nhân vì nội mạc tử cung mỏng chiếm khoảng 20-30%. Giờ đây, những bệnh nhân này sẽ có hy vọng thành công đến 50% khi áp dụng phương pháp bơm chính huyết tương giàu cầu của mình vào buồng tử cung, từ đó kích thích sự hoạt động lớp tế bào, tăng thêm độ dày và chất lượng nội mạc tử cung, giúp phôi làm tổ được tốt hơn” - PGS.TS.BS Lê Hoàng nói thêm.

Tuy nhiên, để có được sự thành công của một chu kỳ thụ tinh ống nghiệm, cần phải có nhiều tiêu chí đồng bộ. Để đạt được tỷ lệ thành công lên đến hơn 60% - cao nhất cả nước hiện nay - BVĐK Tâm Anh, Hà Nội liên tục đưa vào ứng dụng các phương pháp, kỹ thuật, thiết bị hiện đại, cũng như nâng cao trình độ, kỹ năng cho đội ngũ chuyên gia.

Trung tâm hỗ trợ sinh sản BVĐK Tâm Anh, Hà Nội là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam chính thức đưa vào sử dụng tủ nuôi cấy phôi áp dụng trí tuệ nhân tạo AIvới hệ thống phần mềm chính hãng được FDA công nhận, giúp quá trình nuôi phôi tốt hơn, tăng chất lượng phôi cũng như theo dõi, đánh giá và lựa chọn phôi thai chất lượng tốt để chuyển cho bệnh nhân, tăng tỷ lệ IVF thành công.

Bên cạnh đó, BVĐK Tâm Anh cũng áp dụng ERA (Endometrial receptivity array) test - một xét nghiệm cao cấp để đánh giá khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung thông qua đánh giá biểu hiện của vài trăm gen ở nội mạc tử cung. Đây là kỹ thuật xác định và tiên đoán thời điểm thích hợp để niêm mạc tử cung có khả năng tiếp nhận phôi, từ đó cá thể hóa thời gian chuyển phôi. Nhờ có ERA test, các bác sĩ có thể xác định thời gian chuyển phôi thích hợp cho từng bệnh nhân.

Trung tâm Hỗ trợ sinh sản BVĐK Tâm Anh đứng đầu cả nước về tỷ lệ IVF, IUI thành công

Năm 2019, IVFTA dẫn đầu cả nước về tỷ lệ IVF thành công, trung bình lên đến 60,9% , trong đó nhiều trường hợp phụ nữ lớn tuổi, nam giới không có tinh trùng, bệnh nhân có bệnh lý kèm theo. Riêng nhóm bệnh nhân trên 35 tuổi, tỷ lệ IVF thành công tại IVFTA lên tới 61,8% và 70% với nhóm bệnh nhân dưới 30 tuổi.

BVĐK Tâm Anh, Hà Nội cũng được đánh giá cao về các chính sách khám chữa bệnh với quy trình hiện đại, dịch vụ chăm sóc khách hàng cao cấp, là nơi đầu tiên áp dụng chính sách hỗ trợ bệnh nhân vô sinh hiếm muộn trả góp viện phí không lãi suất trong 6 tháng.

 
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang