Làng tranh Đông Hồ

24/12/2017 09:35

(kbchn) - Chỉ cách Hà Nội khoảng 35 km, cách trung tâm thành phố Bắc Ninh hơn chục km với rất nhiều tuyến đường trải nhựa thênh thang, là làng Đông Hồ, xưa có tên nôm là làng Mái, nhỏ bé khiêm nhường nép mình ven bờ đê sông Đuống

Nói đến xứ Kinh Bắc, chỉ với một Quan họ thôi, đã đủ danh giá lắm rồi. Nhưng, ở mảnh đất kỳ lạ này, còn cả trăm, cả nghìn những điều cuốn hút, say mê lòng người không kém Quan họ, mà nếu không được ngắm, được xem, được nghe lấy một lần, thì coi như bạn đã một đời lỡ hẹn. Trong số đó, có tranh Đông Hồ.

Chỉ cách Hà Nội khoảng 35 km, cách trung tâm thành phố Bắc Ninh hơn chục km với rất nhiều tuyến đường trải nhựa thênh thang, là làng Đông Hồ, xưa có tên nôm là làng Mái, nhỏ bé khiêm nhường nép mình ven bờ đê sông Đuống. Nghề làm tranh đã có ở nơi đây cả nghìn năm nhưng chẳng đủ để dân làng ngẩng mặt với đời. “Trăm cái tội, không bằng cái lội Đông Hồ”, đến trước cách mạng tháng Tám - 1945, người Đông Hồ vẫn vất vả như thế.

Nhưng, kỳ lạ thay, người dân Đông Hồ đã vượt qua tất cả, gắn bó và giữ gìn nghề làm tranh khắc gỗ dân gian truyền thống, cổ truyền, có thời điểm, cả 17 dòng họ trong làng đều tham gia làm tranh, để hôm nay, đất Kinh Bắc nói riêng, cả nước nói chung có một địa chỉ văn hóa phi vật thể nức tiếng gần xa.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, cây “Đại thụ” duy nhất còn lại ở làng tranh Đông Hồ với hơn 70 năm tuổi nghề.

Chất liệu làm tranh Đông Hồ tự cổ chí kim vẫn chỉ là “cây cỏ vườn nhà”: Giấy dó, bản in khắc gỗ, màu sắc thì từ gỉ đồng, nước lá cây chàm, vỏ cây vang, đá sỏi, hoa hòe, tro than, vỏ ốc vỏ sò... nội dung phản ánh cũng chỉ là con gà, con lợn, con cóc, con trâu... rồi các cảnh sinh hoạt đời thường chốn thôn quê: hái dừa, đánh ghen, chăn trâu thổi sáo, bịt mắt bắt dê, vinh quy bái tổ, rồi các đề tài được nhân cách hóa: Thày đồ cóc, đám cưới chuột... Thế mà đủ cả vàng, xanh, đen, đỏ tươi tắn, bừng sắc điệp, sống động, nên thơ, như đưa con người trở lại một thời xưa cũ, vẹn toàn chất dân gian mà ấm áp lòng người...

Người dân Đông Hồ làm tranh, giữ nghề tranh như là một cái nghiệp. Cả năm cứ âm thầm, lặng lẽ và chỉ “phô phang” với bàn dân thiên hạ vào 6 phiên chợ tranh, mỗi phiên cách nhau đúng 6 ngày và cũng chỉ tập trung từ mùng một đến hết ngày 26 tháng chạp (tháng 12 âm lịch) hàng năm.

Trung tâm giao lưu văn hóa dân gian Tranh Đông Hồ của gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế. Một trong hai trung tâm sản xuất, trưng bày, giao lưu, trao đổi, bán tranh lưu niệm thường ngày ở làng tranh Đông Hồ.

Những ngày chợ tranh, người làm nghề ở Đông Hồ tập trung thành từng phường, mỗi phường từ 15 đến 20 người, đón người “cất” tranh (các nhà buôn) đến thăm làng, thăm phường từ ngày hôm trước, hôm sau thăm chợ, ngắm tranh, chọn tranh, đóng gói tranh rồi theo các tuyến đường bộ hoặc xuôi thuyền theo dòng sông Đuống, mang tranh Đông Hồ đi các nơi, bán lẻ đến người tiêu dùng để kịp có tranh chơi tết. Hết ngày 26 tháng chạp. Chợ tranh kết thúc, người làm nghề Đông Hồ lại lặng lẽ trở về với cuộc sống đời thường, cả năm hầu như chẳng có khách lạ đến, chẳng ai hỏi mua tranh, và người Đông Hồ cũng không bán tranh lẻ ngoài 6 phiên chợ cuối năm kể trên.  

Có điều lạ, nghề lâu đời và đặc biệt đến như thế, nhưng làng tranh Đông Hồ không có Tổ nghề, cũng chẳng có đền thờ, thậm chí, chưa bao giờ có được lấy một cái cổng làng, hay chăng đèn, kết hoa, giăng giăng biển hiệu để bàn dân thiên hạ biết đấy là “làng tranh Đông Hồ”. Vì thế, đến tận bây giờ, dù có vào đến giữa làng, mà không hỏi, khách lạ cũng không hề biết mình đang hiện diện tại một làng nghề có bề dày lịch sử đáng trân trọng, đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và hồ sơ nghề tranh của làng đang được đệ trình để tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Tuy vậy, bù lại, làng tranh Đông Hồ lại có hẳn một “Đình tranh” - điều mà khắp thế gian này, không nơi nào có được.

Thực ra, đó chính là đình làng Đông Hồ, ngôi đình cổ kính hàng trăm năm tuổi, cũng do chính những nghệ nhân làng tranh Đông Hồ dựng lên để làm nơi thờ cúng thành hoàng làng và sinh hoạt chung cộng đồng. Rồi, như một lẽ tự nhiên, đình làng trở thành “chợ tranh” (vì thế mà còn có tên gọi khác là “Đình tranh Đông Hồ”), nơi trưng bày, giới thiệu, giao lưu, trao đổi, mua bán trong 6 phiên chợ tranh hàng năm. Sau khi chọn được mẫu tranh, thống nhất giá cả rồi, khách mua tranh sẽ được mời về ăn, nghỉ tại gia đình các nghệ nhân (hoặc gia đình những người cùng “Phường tranh” với mình) để nhận, đóng gói hàng rồi được gia chủ giúp đưa lên lưng ngựa (nếu đi bằng đường bộ) hoặc gánh ra thuyền (nếu đi bằng đường thủy), rồi hẹn hò nhau đến mùa tranh sang năm...

Điều đặc biệt nữa, tại đình tranh Đông Hồ, hàng năm còn có hội “thi mã”. “Mã” đây không phải là “con ngựa” theo nghĩa tiếng Hán, mà là hàng mã, một nghề tồn tại và phát triển song song với nghề làm tranh tại làng Đông Hồ.

Chợ tranh Đông Hồ - 1938 (Chụp lại từ bản gốc của nhà nhiếp ảnh Nguyễn An Ninh - Cháu cân nhắc khi sử dụng ảnh này).

Hội “thi mã” Đông Hồ được mở vào dịp đầu xuân, từ ngày 14 đến hết ngày 18 tháng 3 âm lịch hàng năm. Đây là một hình thức sinh hoạt, thi thố nghề nghiệp, cũng là một hoạt động tín ngưỡng đậm chất dân gian của người dân Đông Hồ.

Khác với nghề làm tranh, trước, sau cũng chỉ có ở làng Đông Hồ, còn nghề làm hàng mã, từ làng Đông Hồ, nay đã trở thành nghề làm giầu cho người dân cả xã Song Hồ. Và bây giờ, Song Hồ có cả một “Phố hàng mã” ở trung tâm xã, sầm uất đến mức, phố Hàng Mã Hà Nội chỉ ở hàng... em út!

Được biết, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đang đầu tư hàng tỷ đồng nâng cấp cảnh quan, môi trường, đường giao thông và sẽ xây dựng cả một bảo tàng tranh Đông Hồ tại làng Mái nhỏ bé, khiêm nhường ngày xưa...

 

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang