NGUỒN GỐC CỦA CHIẾN TRANH - Phần 2
Thứ bảy - 26/05/2012 07:26 - Đã xem: 417
Châu Âu và Châu Mỹ
Tại Châu Âu, không có bất cứ bằng chứng xác thực nào của xung đột trong thời kỳ đồ đá cũ dù rằng nhiều nhà khảo cổ vẫn nghĩ ngược lại. Tuy nhiên, cách đây khoảng 10.500 năm, khi dân số nông nghiệp định cư bắt đầu tăng lên, tại nhiều địa điểm người ta đã tìm thấy dấu hiệu của bạo lực cá nhân và cũng có những dấu hiệu của bạo lực tập thể. Trong thời kỳ này, những dấu hiệu bạo lực cũng được tìm thấy tại một số các địa điểm khai quật khác. Bắt đầu cách đây từ 6.500 năm, tại các địa điểm trước kia là đường hào người ta tìm thấy các bộ xương với những vết thủng hình tròn, cũng có nhiều dấu hiệu của các đợt tàn sát tập thể cả ngôi làng. Vào thời kỳ đồ đồng, 2.000 năm sau đó, chiến tranh và quân đội đã thực sự là đối tượng của việc thờ cúng.
Vùng Bắc Mỹ có tình hình rối rắm và phức tạp hơn theo từng khu vực khác nhau. Người Kennewick, bộ xương được tìmthấy tại bang Wash-inglon có tuổi khoảng 7.500 - 9.200 năm có dấu hiệu vết thương ở vùng xương chậu. Nhưng đây chỉ là một trường hợp cá biệt. Tại vùng biền Thái Bình Dương, phía Đông Bắc, người ta tìm thấy các dấu vết đánh đập trên các bộ xuống còn sót lại, trong khi những dấu hiệu của xung đột bắt đầu xuất hiện cách đây 4000 năm trong các khu vực phía Bắc trong khi ở phía Nam, những dấu hiệu tương tự chỉ xuất hiện vài trăm năm sau đó. Nhiều bộ xương đã được tìm thấy trong những khu rừng cỏ phía Tây chứng tỏ rằng đã có những dấu hiệu của bạo lực. Trong một số trường hợp, thí dụ như tại một địa điềm ở bang Florida thời điểm cách đây khoảng 7.000 năm, nhiều cá nhân đã liên quan tới các đụng độ bạo lực. Nhưng những khám phá đặc biệt lại thuộc về thời cách đây khoảng 5.000 năm. Tại khu vục Đồng bằng lớn ở phía Nam, trong số 173 bộ xương có tuổi khoảng hơn 2.500 năm, chỉ có một bộ xương có dấu hiệu của sự giết người: một người đàn bà bị đập hai lần vào đầu. Những dấu vết chiến tranh không thể chối cãi được tại khu vực Đông Bắc cách đây ít nhất khoảng 2.000 năm đặc biệt ấn tượng. Gần như 2/3 thậm chí hầu như tất cả trong số 90 xác chết chôn tại một hang động ở phía Nam băng Utah đều đã bị giết chết.
Một bài báo mới đây nói về địa điểm Oaxaca ở Mêhicô đã khẳng định một cách hùng hồn nguồn gốc của chiến tranh. Tóm lại, nếu chiến tranh là chuyện khá phổ biến thời kỳ tiền sử thì vô vàn nhùng di tích khảo cỏ được tìm thấy phải chứa những dấu vết về nó. Nhưng chúng lại hầu nhu chằng có gì nhiều. Chúng ta đang gặp một trường hợp trong đó "sự vắng mặt của bàng chứng không có nghĩa là có bằng chứng ngoại phạm".
Nhưng tại sao các dân tộc yên lành trong quá khứ lại bỗng trở thành những xã hội đầy bạo lực. Những nguyên nhân chính xác dường như ít thấy hiển hiện nhưng theo Brian Fugcrson thì có 5 điều kiện tiên quyết liên quan tới việc xuất hiện chiến tranh thời tiền sử. Một trong số đó là giai đoạn chuyển từ phong tục di cư thành định cư không hoàn toàn gắn với nông nghiệp. Thực ra khi một bộ phận dân cư cảm thấy phù hợp với một khu vục nào đó và thấy ở đó có các nguồn cung cáp lương thực thì họ thường ít phải trải qua những thời kỳ khốn khó.
Một điều kiện tiên quyết khác là sự tăng trưởng nhanh chóng trong nội bộ của một bộ phận dân cư dẫn tới việc cạnh tranh nhau để tiếp cận với nguồn tài nguyên. Tiếp đến là sự phát triển về mặt trật tụ xã hội, một tầng lớp tinh túy xuất hiện cùng với những địch thủ cạnh tranh. Rồi là sự gia tăng thương mại từ xa đến, đặc biệt là việc buôn bán các đồ vật có giá trị: những thứ đáng phải tranh giành nhau. Cuối cùng, việc chiến tranh bắt đầu hoặc gia tăng cường độ chiến tranh thường liên quan tới một thời kỳ biến động lớn về khí hậu khiến các điều kiện cung cấp những vật phàm thiết yếu cho cuộc sống con người bị thay đổi.
Quan hệ phụ thuộc
Raytnond C. Kelly, nhà nhân chủng học thuộc Đại học Michigan cùng đã đưa ra một cách xác định nguyên nhân của chiến tranh. Theo ông, một trong những nguyên nhân của chiến tranh có liên quan tới hiện thực của xã hội. Bàng việc phân tích các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để so sánh thực tế xã hội của những người hái lượm có chiến tranh với nhũng người cùng thời nhưng sống hòa bình, ông đã nhận thấy rằng trong một vài trường hợp của các xã hội người hái lượm thanh bình, các tổ chức xã hội không vượt quá phạm vi của họ hàng và một hệ thống lỏng lẻo nhưng lại khá linh hoạt. Ngược lại, các xã hội có chiến tranh thường là tập hợp của các tập thể lớn và được xác định như kiểu các phường hội. Sự tồn tại cua các nhóm người tập trung này dẫn tới việc xuất hiện khái niệm lăng mạ tập thể và mong muốn thay thế tập thể.
Trải qua hàng nghìn năm, chiến tranh giữa các bộ tộc trở thành chuyện thường tình chứ không phải là cá biệt. Khi các điều kiện cho chiến tranh đã trở nên chín mùi thì phần lớn nhất của một dân tộc trong những vùng rộng lớn nhát bỏ đi nơi khác. Sự phát triển này đã phát triển cái ý tưởng gây chiến tranh đối với những nhóm người khác. Thí dụ các Nhà nước cổ sử dụng nhũng kẻ "mọi rợ" ở các khu vực ngoại vi đề mỏ rộng vương quốc của mình và đàm bảo an toàn cho hệ thống thương mại của họ. Cuối cùng, việc bành trướng của người Châu Âu từ sau năm 1492 đã khiến những người bản địa đứng dậy đánh lẫn nhau vì chủ quyền lãnh thổ của họ, bảo vệ những nô lệ và ảnh hưởng thuộc địa của mình. Những nhóm người tị nạn buộc phải trở về nước của họ, những đồ vật chế tạo được đưa vào và các lý do mới của chiến tranh lại xuất hiện (như trong trường họp của người Yanomami). Chính việc phổ biến vũ khí của người Châu Âu đã khiến các cuộc giao tranh trở nên đẫm máu hơn bao giờ hết.
Khi bắt đầu nghiên cứu về chiến tranh giữa những năm 1960, Ferguson đã bị ảnh hưởng của tư tưởng có tên là văn hóa sinh học mà người hậu duệ hiện văn đang báo vệ cho tư tưởng này là Steven Leblanc. Áp lực của dân số lên các nguồn cung cấp lương thực (đất đai, thú săn, thú nuôi) trong quá khứ luôn được coi là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc. Trong vài trường hợp, thuyết này tỏ ra đúng. Thí dụ như ở những dân tộc sống dọc theo bờ biển Tây Bắc Thái Bình Dương chẳng hạn. Trước khi dân số của các tộc người này giảm đi vào thế kỷ XIX, nhũng cuộc giao tranh dữ dội đã diễn ra để giành quyền tiếp cận tới các nguồn lương thực cơ bản như các cửa sông nơi có các đàn cá hồi sinh sống. Tuy nhiên, chiến tranh tại nhiều khu vực khác của trái đất không phải hoàn toàn bát nguồn từ lý do lương thực.
Ngày nay, thuyết này được nhiều chuyên gia sử dụng lại dưới cái tên "an toàn môi trường". Họ giải thích những lý do gây bạo động thời gian gần đây lý do sự khan hiếm các nguồn lương thực gây ra bởi dân số tăng và môi trường bị hủy hoại. Nhưng khi xem xét một số các trường họp xung đột thời gian gần đây ở Chiapas (Mêhicô) hay ở Rwanda, các nhà nghiên cứu lại không ủng hộ thuyết "sinh học" này. Các nhà nhân chủng học lại khám phá ra rằng nếu một nhóm dân nào đó thiếu các nguồn lực cơ bản thì nguyên nhân chính lại là việc phân chia không công bằng các tài nguyên ngay trong nội bộ của xã hội đó. Đây là một nguyên nhân chính trị và kinh tế chứ không phải là do dân số gia tăng về mặt cơ học và các nguồn lương thực thiếu thốn. Ngành nhân chủng học có thể đưa ra một cái nhìn hoàn toàn khác về các thảm họa diệt chủng ở Rwanda hay các cuộc nội chiến tại các nước Balcan. Nghiên cứu các xung đột hiện đại cho thấy các nguyên nhân chiến tranh khá đa dạng: do nhu cầu lương thực, do quan hệ sinh học khu vực thay đổi, do đấu tranh giành quyền lực giữa các chính phủ hay trong một nước hoặc các nguyên nhân khác như tôn giáo và sắc tộc.
Quyền lợi của các nguyên thủ
Vả lại, các thời kỳ khủng hoảng được nhìn nhận khác nhau theo từng nhóm người khác nhau. Các quyết định liên quan tơi nhận thức và quyền lợi của mỗi người khác nhau. Thông thường thì việc nhìn nhận một sự việc gắn bó chặt chẽ với quyền lợi của người xem xét vấn đề. Khi một cuộc xung đột xảy ra và các cuộc tàn sát bắt đầu thì các sắc thái nguyên nhân chiến tranh biện mất. Số phận của một người được quyết định đơn giản bởi tôn giáo, dân tộc hay bộ tộc mà người đó tham gia. Cuộc tàn sát những người Tutsi trong đợt diệt chủng ở Rwanda vào năm 1994 là một ví dụ điển hình. Nhưng những khác biệt này không phải là nguyên nhân của xung đột.
Theo R. Brian Ferguson, trong nhiều trường hợp (không phải tất cả), quyết định chiến tranh liên quan tới việc theo đuổi quyền lợi riêng của chính những người đưa ra quyết định. Một xung đột có thể liên quan tới các vấn đề lương thực cơ bản nhưng nó cũng có thể nổ ra khi quyền tiếp cận tới nguồn lương thực chỉ được giành riêng cho một nhóm người tinh hoa nào đó. Quyết định chiến tranh còn phụ thuộc vào tính toán hơn thiệt giữa giá phải trả của cuộc chiến với các nguy co tiềm tàng sau đó có đe dọa không chỉ mạng sóng mà cả tài sản của những người tham gia cuộc chiến. Nói một cách nào đó cụ thể hơn thì quyết định liên quan tới vị trí trong bảng thứ hạng chính trị nội bộ: các "đại gia" của Tân Tây Lan là các hoàng thân và tổng thống, các nhà lãnh đạo thường ủng hộ chiến tranh vì chiến tranh tạo điều kiện trở lại cho các lãnh đạo. Tất nhiên, nhưng người muốn thúc đầy chiến tranh không bao giờ đưa ra quyết định bởi chính quyền lợi của mình. Thường điều này liên quan tới mối hiểm nguy và lợi ích của một tập thể. Những người ủng hộ chiến tranh thường luôn đưa ra những giá trị cao cả cần phái bảo vệ, sự cần thiết phải chống trả lại những hành động qủy quái, bảo vệ tôn giáo chính thống hay ủng hộ dân chủ. Chính bằng những lá bài này mà họ tranh thủ được những kẻ còn chần chừ và tạo ra được một quyết tâm đầy cảm tính.
Hành trình của chiến tranh không chỉ, thậm chí không hoàn toàn bởi các mưu mô bị ổi. Cùng có thể nó được tạo ra bởi như cầu tự điều chỉnh về lương thực của con người. Những người tuyên bố chiến tranh bao giờ cũng tin rằng lý lẽ và sự lựa chọn của mình là đúng. Đó chính là khả năng đã biến con người thành một giống loài hết sức nguy hiểm.
Nguồn : Tintac