KBCHN: Bài viết do nhà báo Nguyễn Phẩm Tiểu gửi đăng.
Đầu tháng 12/2010, lần đầu tiên sau hơn 40 năm thoát khỏi cái nhà tù đã tra tấn đến chết 4.000 người tù cộng sản, yêu nước, ông Vũ Minh Tằng đã trở lại đảo Phú Quốc, thực hiện “cuộc gặp lịch sử” với “ác quỷ” Bảy Nhu.
Trong phóng sự
Người về từ “địa phủ” và 9 chiếc răng lưu lạc Dân trí đăng ngày 27/7/2010, chúng tôi đã kể về số phận thảm thương của một chiến sĩ cộng sản kiên trung trở về từ “địa ngục trần gian” nhà tù Phú Quốc. Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi tiếp tục đăng thông tin tiếp theo về cuộc gặp gỡ giữa “người về từ địa phủ” Vũ Minh Tằng và kẻ từng được mệnh danh là “ác quỷ” ở nhà tù Phú Quốc.
“Tôi chỉ đi tàu bay hai lần, hai lần đều bị còng tay và bịt mắt”
Ngay từ khi đọc những dòng miêu tả hiếm hoi của chúng tôi về cảnh sống hiện tại của viên “thượng sĩ bẻ răng” khét tiếng Bảy Nhu, nhiều độc giả đã bày tỏ mong muốn tổ chức một cuộc gặp “nảy lửa” giữa ông Tằng và “quỷ sống”. Hình ảnh Nhu và thuộc cấp sáng tạo ra “trò chơi” ghè răng hàng chục, hàng trăm người tù, rồi thu gom răng “tươi” lại, để trong những cái ống bơ sắt, đeo trước cổ, mỗi bước đi lại phát ra tiếng kêu lóc xa lóc xóc đó, có lẽ nó còn khiến nhân loại tiến bộ mãi mãi “không tin được dù đó là sự thật”. Ông Vũ Minh Tằng được độc giả về tận xã Vĩnh Hào (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) tặng xe lăn, tặng tiền, quà, trị giá khoảng 80 triệu đồng.
 |
| Ông Tằng, sau gần 40 năm mới có dịp trở lại nhà tù Phú Quốc, điạ ngục trần gian từng tra tấn mình chết đi sống lại, tàn phế suốt đời. |
Đặc biệt, hai độc giả ở Quảng Ngãi và TP.Hồ Chí Minh còn “liên kết” với nhau, hùn tiền sắm cho người tù bị bẻ 9 cái răng phải ăn cháo suốt hơn 40 năm kia một bộ răng giả làm bằng chất liệu và công nghệ Nhật Bản, tổng chi phí hơn 30 triệu đồng. Ngôi nhà dột nát của vợ chồng ông Tằng cũng đã được sửa sang, nâng cấp, đổ mái, lát nền.
“Bốn mươi năm nay, cái đêm “thằng” Nhu tra tấn tôi đó, lúc nào nó cũng hiện về. Nhu đánh tôi đến mức, không còn cái răng để mà ăn nữa” – ông Tằng nuốt cục uất hận qua yết hầu còm nhom của người bệnh nặng 38kg, tiếp: “Tôi bảo với cái cô tặng răng cho tôi là: Tôi già rồi, sống nay chết mai, cô đừng bỏ tới 30 triệu mà làm răng cho tôi nữa, tôi có được nhai mấy bữa nữa đâu mà các cô phung phí thế”.
Khách dò theo địa chỉ bài báo viết đến thăm ông Tằng rất đông, có vị “hàm cấp” như Trung tướng Lê Khoa, có vị chỉ là người bán rau cỏ ở Hà Nội; có lẽ, đặc biệt nhất trong số đó là ông Nguyễn Chí Sỹ – Giám đốc công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà Nội. Ông Sỹ và đoàn về tặng 20 triệu đồng, cùng ý tưởng: Đưa người tù có “chín cái răng lưu lạc” vào lại đảo Phú Quốc gặp viên cai ngục đã tra tấn ông. Ông Sỹ xúc động lắm. Vì tổ chức cho 100 anh em tù cộng sản đào hầm vượt ngục, băng qua sóng biển vào đất liền tiếp tục hoạt động, mà ông Tằng bị Bảy Nhu và đám quân cảnh bắt lại, tra tấn bằng những hình thức dã man nhất. Thậm chí bắt ăn cơm, uống nước có trộn máu và… phân người.
 |
| Ông Vũ Minh Tằng (giữa) khởi hành trở lại Phú Quốc gặp “ác quỷ” Bảy Nhu. Ảnh: Đ.D.H |
Dự kiến, mỗi người chúng tôi phải đi mất ít nhất 4 chặng bay trong toàn bộ hành trình đi và về (từ Hà Nội quá cảnh qua TP.Hồ Chí Minh, trước khi bay ra đảo Phú Quốc), ông Tằng nghe lộ trình, cứ thế ngồi bần thần vò đầu bứt tai rồi… dăn deo gương mặt lại, lau nước mắt. “Chú Hoàng ơi. Tính đến giờ, 73 tuổi đầu, đời tôi được đi máy bay đã hai lần, cả hai lần đều tinh có đi máy bay của bọn đế quốc. Nó đều bịt mắt, xiên tay tôi vào tay đồng đội bằng dây thép. Lần đầu đi từ Bệnh viện Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) bay thẳng ra nhà tù Phú Quốc. Lúc ấy tôi vừa bị nó bắn, thả hơi cay ở hang Đá Chẹt ngoài Quảng Ngãi, còn chưa tỉnh hẳn. Lần thứ hai nó cũng bịt mắt, ấy là khi nó đem tôi từ nhà tù về Quảng Trị “trao trả tù binh”, theo Hiệp định Paris, nó cũng bịt mắt và còng tay. Bây giờ, đi máy bay có vất vả lắm không hả chú?”. Nghe xong, ai cũng rùng mình, có người bật cười chua xót.
“Đợi tôi rủ 8 cái răng đi cùng”
Hôm xe về Nam Định đón ông Tằng ra sân bay Nội Bài, cả vùng quê huyên náo với cuộc tiễn đưa, bà vợ già còng gập, chân tay phù nề vì bệnh thấp khớp của ông Tằng thì cứ thảng thốt ra ra vào vào, đã lâu lắm rồi, cặp vợ chồng già hầu như không xa nhau đến 1 ngày. Ông Tằng rủ rỉ: “Bà ở nhà, tôi lên chỗ bảo tàng xin lại 8 cái răng, đem nó vào cho thằng Nhu xem, kẻo vào gặp nó lại cãi bay cãi biến. Cái bọn suốt đời hỏi cung, tra tấn, ép cung người khác như thế, là nó gian manh lắm bà ạ”. Trời tối mịt, cặp mắt bị mờ vì các trò tra tấn của cai ngục, giờ đeo kính 13 đi ốp vẫn chẳng nhìn thấy gì, mà ông vẫn một mực dẫn đường bắt chúng tôi phải ghé qua “Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày” ở huyện Phú Xuyên, Hà Nội để… xin lại “8 cái răng lưu lạc” (một cái có chân đế nhọn hoắt vẫn “nhởn nhơ” mắc lại trong… bụng ông Tằng không chịu “ra”, nay đã siêu âm thấy).

|
Cuối cùng thì viên cai ngục Bảy Nhu đã phải thú nhận toàn bộ tội lỗi, kèm theo lời xin được bao dung. “Văn bản” có thủ bút, chữ ký của Bảy Nhu giờ đã được treo trong bảo tàng (kèm theo chữ ký của một vị Anh hùng từng bị Nhu tra tấn, chữ ký của Bí thư huyện ủy Phú Quôc, lãnh đạo Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc – những người chứng kiến…).
|
Không biết trên thế giới này có ai được người làm bảo tàng vận động hiến răng để trưng bày như ông Tằng không nhỉ? Chùm răng bị Bảy Nhu vặn, bắt nuốt rồi “dị hóa” ra, bí mật giữ 40 năm qua của ông Tằng đang được bày lên mặt một lá thư tay do ông Tằng “thủ bút”, tất cả nằm trong tủ kính bọc vải điều, rất trang trọng.
Ông Lâm Văn Bảng – “ông chủ” xây dựng và quản lý bảo tàng nghe trình bày việc ông Tằng xăng xái đi… mượn chùm răng, đem ra đảo Phú Quốc “ném vào mặt Bảy Nhu”, bỗng dưng đau đớn ngồi thụp xuống góc vườn, thở dốc. Ông ngồi như một pho tượng đồng trước ban thờ các tử sĩ của nhà tù Phú Quốc. Ông Bảng cũng là một cựu tù khốn khổ từ cái địa ngục trần gian nhà tù Phú Quốc đó sống sót trở về. Ông Tằng thì vào trò chuyện thủ thỉ với đám răng của mình. “Răng à, tao muốn mang chúng mày ra ngoài đảo, đặt tất cả trước mặt thằng Nhu, rằng, mày đã dùng ống tuýp sắt ghè gẫy từng cái răng của tao, bắt tao uống máu tao, nuốt răng tao, rơi cái gì ra ngoài là mày giết tao. Đống răng của tao đây, mày còn cãi được không, hả thằng Nhu!”.
 |
| Có khi ông Tằng nổi nóng thọc tay vào miệng rút hàm răng giả ra, nói rằng “lũ quỷ các ông” đã nhổ răng tôi, nhổ hết 9 chiếc trong một đêm rồi bắt tôi phải nuốt cả răng lẫn máu vào bụng. |
Tôi (người viết bài này) phải góp ý nhiều lần, rằng là chúng tôi tổ chức cuộc gặp gỡ giữa hai người ở đỉnh trời và đáy vực, hai người là thiên thần và quỷ dữ, một bên là sắt son yêu nước, một bên là tận cùng tàn độc với đồng bào máu đỏ da vàng của mình…, chúng tôi tổ chức không phải để khoét sâu hận thù hay để khêu máu hiếu kỳ cho ai đó. Mà để hai bên hiểu nhau, mà để tha thứ, bao dung và để trung thực ghi lại một “bối cảnh” không thể nào tưởng tượng được giữa hai “nhân vật lịch sử” đã gây quá nhiều xúc cảm không giống nhau trong lòng rất rất nhiều người.
Tôi nói với ông Tằng: “Bác không thể mày tao với ông Bảy Nhu, dẫu sao thì hai người cũng đã ở cái tuổi lên lão, như chuối chín cây, tuổi mà “các cụ gọi về bất cứ lúc nào” rồi. Dù gì thì tội ác, đau thương đã qua đi, dù gì thì cũng không thể lấy oán mà trả oán để ân oán chập chồng”. Nhà nước ta đã khoan hồng cho Bảy Nhu được cải tạo rồi trở về với gia đình như những người khác, chúng ta phải tự hào vì sự khoan dung đó.
Cuối cùng thì ông Tằng cũng đồng ý, sẽ xưng “tôi” và “ông” khi gặp Bảy Nhu, đồng thời không mang theo chùm răng đang gửi ở bảo tàng kia đi ra đảo Phú Quốc.
 |
| Cái bắt tay, sự thanh thản của ông Vũ Minh Tằng và Bảy Nhu, “người của hai chiến tuyến”, sau gần 40 năm… người nọ không tin người kia là còn sống. |
Bảy Nhu là một người cô độc, lẩn tránh mọi người đến mức, các gã xe ôm gần nhà ông ta, các hướng dẫn viên 15 năm đưa khách du lịch từ Hà Nội vào nhà tù Phú Quốc cũng chưa bao giờ “được” gặp ông ta. Hầu hết mọi người không biết ông ta còn sống. Khi nín thở “trinh sát”, bố trí cho cuộc gặp của ông Tằng với Bảy Nhu, tôi thật sự không một phút nào dám tin mình sẽ thực hiện được lời hứa với một số độc giả, cho đến khi… ông Tằng đi qua đàn chó hung dữ sủa ầm ầm bước vào nhà ông Nhu và Bảy Nhu ngơ ngác, lẩy bẩy, đứng dậy hỏi “Ông là ai?”.
Họ đã nhận ra nhau, nặng lời với nhau, khoác vai nhau, bắt tay nhau, khóc thật to rồi cười khe khẽ. Ông Tằng không kiềm chế được, ông đứng dậy, thọc tay vào miệng, móc hai hàm răng giả ra, chỉ tay vào khoang miệng tối om móm mém của mình, nói lớn: “Các ông đã vặn hết răng của tôi đây!”. Ông Nhu vời vợi nhìn ra các cánh rừng ngoài triền đất đỏ: “Tôi nhớ rồi, ông là Bí thư chi bộ. Ông có tài châm cứu, thường châm cứu cho tôi. Ông tổ chức cho anh em ở buồng 13 vượt ngục. Và… Tôi là con chó săn của lũ đế quốc, tôi biết lỗi rồi. Tôi xin lỗi ông. Nếu ông không tha, đầu tôi, ngực tôi đây, ông đấm mấy quả thì cứ đấm”. Cả hai im lặng lâu đến mức, tôi và anh lính biên phòng Lưu Quang Mười phải ý nhị bỏ ra ngoài vườn nghe tiếng chó sủa râm ran khắp vườn điều xanh rợp…
Theo Đỗ Doãn Hoàng
Lao Động
“Tôi biết ơn ông Tằng đã tha thứ cho tôi…”
Đầu tháng 12/2010, lần đầu tiên sau hơn 40 năm thoát khỏi cái nhà tù đã tra tấn đến chết 4.000 người tù cộng sản, yêu nước, ông Vũ Minh Tằng đã trở lại đảo Phú Quốc, thực hiện “cuộc gặp lịch sử” với “ác quỷ” Bảy Nhu.
Việc đầu tiên của tôi, khi vừa đáp xuống sân bay Phú Quốc, là phải vượt 30km đường bụi mù, xóc nảy để le ve lượn quanh khu vực nhà Bảy Nhu thám thính.
Điện thoại cho nhiều người quen biết Bảy Nhu mà tôi từng gặp ở An Thới, bao giờ tôi cũng chỉ dám dò hỏi sức khỏe mọi người, hỏi “bác Nhu” độ này bệnh thấp khớp còn hành hạ nhiều không, hoặc cái ban thờ Phật của người đàn ông ăn chay sám hối sau nhiều năm lấy mắt cá chân, đập bánh chè, nhổ răng hàng nghìn người tù yêu nước đó có còn không…
Lần trước, để “giáp mặt” viên cai ngục được, tôi phải nhờ một đại tá đương chức của tỉnh đội Kiên Giang viết thư tay, giới thiệu tôi với một người thân tín của Bảy Nhu. Giờ, tìm trên mạng Google tìm kiếm một lần nữa, tôi không tìm được một tác giả nào viết bài và trực tiếp ghi âm, chụp ảnh Bảy Nhu ngoài… tôi ra.
Đó lại là những bức ảnh chụp lén trong sự phản đối khá cương quyết của một ông lão biết rất rõ mình là “quỷ sống” ở cái thời không tài nào hiểu nổi… Trước chuyến vào Phú Quốc này, tôi đã biết tin, Bảy Nhu có đọc bài tôi viết và rất oán thán “thằng nhà báo”, nếu bây giờ ông ta nhận ra tôi thì sao?
Cuộc gặp gỡ nảy lửa giữa người tù và viên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam.
Tiếng bước chân lao xao trên lá bạch đàn khô, chó sủa như muốn cắn nát không gian chiều muộn, sương biển đã bắt đầu buông phủ. Căn nhà màu hồng cô độc hiện ra giữa bạt ngàn gò đồi. Những hình ảnh nhảy múa trong chiếc tivi giữa nhà Bảy Nhu phụt tắt.
Tôi đứng khựng lại, cả đoàn nín thở, kể như cuộc gặp gỡ sau mấy chặng tàu bay và ôtô kia đã đổ bể ư? Theo đúng lập trình có sẵn từ nhiều năm của Bảy Nhu, tắt tivi, tắt điện, cáo ốm, cáo vắng nhà, đi theo cửa sau thoát vào rừng mắc võng ngủ, thế là xong.
Tôi buộc phải chuyển phương án, đứng ở cổng nhà Bảy Nhu, gọi thẳng về Chỉ huy Biên phòng tỉnh Kiên Giang. Đồng chí Phó Chủ nhiệm Chính trị biên phòng tỉnh gọi về cho Lưu Quang Mười, cán bộ đồn biên phòng quản lý địa bàn Bảy Nhu sinh sống. Bộ quân phục xanh màu lá núi của Mười đứng án ngữ trước cổng, “Bác Bảy có nhà không ạ, cháu là Mười “biên phòng” đây!”.
Quê ở miền Bắc, tốt nghiệp ĐH Biên phòng xong, Mười được điều về thẳng An Thới đồn trú. Suốt 10 năm qua, “thượng lá cây, hạ ngọn cỏ” ở đất này, Mười đều thuộc lòng, anh thường phải gặp Bảy Nhu để vận động đừng… chạy trốn người khác như thế, tội lắm.
Tư liệu, lời của hướng dẫn viên trong khu di tích lịch sử nhà tù Phú Quốc có nói rõ: Bảy Nhu luôn lẩn tránh mọi cuộc tiếp xúc. Hồi mới đi cải tạo về, ông Nhu sợ người ta trả thù mình vì “biển trời” tội ác trong quá khứ, ông ta toàn gài mìn xung quanh nhà để tự bảo vệ. Ác giả ác báo, sau này, chính người con út của ông Nhu đã vướng vào mìn đó, bị cụt một bên chân.
Cuối cuộc gặp gỡ là sự tha thứ, cảm thông, nhưng đúng là cũng có rất nhiều căm phẫn, có khi cả hai cùng khóc, cùng cười.
“Xin ông tha lỗi. Tôi như con chó săn của chúng nó ấy mà”
Phải nói thật thà rằng, trong cơn xúc động và đau đớn tột độ, nhiều cựu tù Phú Quốc “thân tàn ma dại” vì các ngón đòn tra tấn của Bảy Nhu và đám quân cảnh đã đòi “đập chết” Bảy Nhu cho hả giận. Nhưng, vì ông Tằng đã được “trấn an tư tưởng” suốt dọc đường, là mình phải giữ “nhân cách của người chiến thắng”, nên ông khá bình tĩnh.
Giọng ông Tằng như rít lên: “Ông Nhu có nhận ra tôi không? Tôi là người bị các ông tra tấn nhiều nhất. Lúc tôi ra khỏi nhà “điều hành”, nhìn thấy tôi, ông còn bảo: “Mày vẫn còn sống đấy hử? Chúng tao đã chuẩn bị cỗ hậu (quan tài) để ném mày ra biển rồi mà!”.
Giọng ông Nhu run lẩy bẩy: “Tôi không nhận ra đâu. Mắt tôi bây giờ yếu và mờ lắm”.
Ông Tằng vẫn kiên nhẫn, cố bình tĩnh: “Tôi là Vũ Minh Tằng, vào tù 3.3.1967; ra tù 3.9.1973. Tôi bị quân cảnh các ông tra tấn đến “kịch đường tàu” rồi. Đây, răng của tôi bị các ông bẻ đây (vừa nói ông Tằng vừa móc hai hàm răng giả, chìa phom miệng toàn lợi đỏ về phía ông Nhu). Trước tôi ở B2, tôi vẫn thường châm cứu chữa bệnh đau lưng co rút cho ông mà. Răng này là người ta vừa làm tặng tôi đấy!”. Ông Tằng dứ dứ hai hàm răng giả trị giá 30 triệu, trắng bóc về phía ông Nhu.
Giọng ông Nhu đanh lại: “Có, tôi nhận ra ông rồi”.
Có vẻ việc nhận ra ông Tằng làm ông Nhu mất kiểm soát rất nhiều. Ông ta có vẻ không quên ơn người tù đã châm cứu chữa bệnh cho mình: “Ông Tằng ơi, tôi nhớ, bấy giờ ông ở buồng giam số 13, ông là Bí thư chi bộ. Các ông đào hầm khoét ngạch, mỗi ngày đào ra được vài xẻng đất, lại đổ đất đi ra bìa rừng bằng cách nhét đất vào trong xô đựng xỉ than nấu bếp. Buồng giam số 13 ở gần khu bếp ăn. Tôi nhớ rồi. Tôi xin lỗi nhé. Đời nó là như thế, tôi cũng chỉ bị chúng nó (đế quốc và tay sai) xui khiến và ép buộc phải làm. Đời tôi cũng như con chó săn thôi, lúc đánh các ông, tôi như con chó săn, như cái thằng điên ấy chứ có biết gì đâu”.
Nói rồi Bảy Nhu nhỏm dậy, giơ gương mặt và hai cẳng tay lốm đốm tàn nhang đen xám về phía ông Tằng: “Tôi đây, ông đánh bao nhiêu thì cứ đánh”.
Nghe đến đấy, ông Tằng trong cơn căm phẫn bỗng dưng… cũng xẹp xuống, giọng ông như rên xiết: “Bác Nhu à, bác hơn tôi chừng10 tuổi, tôi gọi như thế cho tiện. Bác Nhu ơi, thế tại sao bác lại ác đến mức đập vỡ đầu, đục gần hết răng, nghiền nát hai xương bánh chè ở đầu gối tôi như thế. Nắm cơm bé và thuôn như quả chuối của người tù, sao các bác lại bắt chúng tôi phải chấm cơm vào máu và vê lẫn phân người để ăn?”.
Riêng chuyện này thì ông Nhu phủ nhận: “Tôi khẳng định là tôi không làm chuyện đó. Chắc lúc tôi đi vắng, mấy thằng lính nó giở trò như vậy”. Ông Nhu thừa nhận có chuyện ở mỗi phòng tù nhân tuyệt thực đều có cái xô đựng nước, ở đó, có khi nước uống pha lẫn phân, nước tiểu và máu của người tù, bắt họ uống.

Chùm răng của ông Vũ Minh Tằng, sau khi bị Bảy Nhu và đám quân cảnh nhổ, bắt nuốt vào bụng, ông đã bới phân mình giữ lại suốt gần 40 năm.
Bảy Nhu hồi ức lại: “Ông có tài châm cứu tuyệt lắm, chữa bệnh cho tôi đỡ lắm. Bấy giờ tôi bị đau ốm quá. Mà này, giờ về quê, ông có phát huy được cái tay nghề đó nữa không?”. Ông Tằng nhập ngũ khi bà vợ ở nhà đang mang thai đứa con thứ hai, ông đi biệt và không bao giờ dám tin mình còn sống để trở về.
Ông được đào tạo y sĩ ở Viện 5 Quân y Ninh Bình từ trước khi nhập ngũ, năm 1962. Sau này vào tù Phú Quốc, ông Tằng đã thu gom dây sắt, xin phép đám quân cảnh để mài chúng thành những cái kim châm cứu dài 12cm, có tới 20 cái kim như vậy, để chăm sóc sức khỏe cho bạn tù. Riêng thượng sĩ bẻ răng Phạm Văn Nhu là trường hợp “bệnh nhân” đặc biệt nhất của “tay kim Vũ Minh Tằng”.
“Bận sau ông quay lại, chắc tôi không còn sống nữa đâu”
Tôi đã cố sức “đạo diễn” để ông Tằng bình tĩnh lại, đừng gây ra ẩu đả, bởi hai người đều đã ở cái tuổi gần đất xa trời. Hai ông bắt tay nhau, ngoài quà của đoàn chúng tôi, ông Tằng thậm chí còn đột ngột rút ví tặng ông Nhu một ít tiền (ông có phụ cấp bệnh binh) nho nhỏ, kèm theo một câu nói mà người nghe ai cũng dễ cảm động: “Tôi có mấy đồng, để bác mua thêm một chén thuốc dưỡng bệnh. Đời tôi với bác bây giờ có sống được cũng chỉ là nhờ… thuốc thang mà thôi”.
Bảy Nhu bần thần nhìn mãi ra ngoài cửa: “Tôi xin lỗi ông”, rồi quay sang giới thiệu bà vợ của mình: “Bà xã nhà tôi, năm nay cũng sang tuổi 80, bắt đầu được lĩnh tiền dành cho người cao tuổi đấy”.

Cái bắt tay, sự thanh thản của ông Vũ Minh Tằng và Bảy Nhu, “người của hai chiến tuyến”, sau gần 40 năm… người nọ không tin người kia là còn sống…
Ông Tằng quay ra hỏi về bà vợ hai của ông Nhu, một phụ nữ trắng trẻo, mau mắn, nương theo địa vị của chồng để làm tiếp phẩm, bán buôn phục vụ trong nhà tù. Ông Nhu cho biết: “Bà ấy chết rồi, tôi đi cải tạo về thì bà ấy chết ở Kiên Giang”.
Khóc lớn, rồi lại cười lớn, hai con người tưởng như là kẻ thù không đội trời chung kia đã nắm tay nhau. Bảy Nhu khoe với ông Tằng bàn thờ Phật nhỏ bé ở góc tủ: “Tôi sống được nhờ ăn chay và niệm Phật. Tôi biết ơn ông Tằng đã tha thứ cho tôi. Hôm trước còn có ông Kế xuống gặp tôi. Ông ấy đã bị chúng tôi tra tấn, “kết án” tử hình thế mà bây giờ vẫn còn sống. Những người dũng cảm như các ông, kể cả lúc tra tấn các ông khi xưa, từ trong đáy lòng, tôi vẫn thấy rất nể phục đấy chớ…”.
Nói rồi, ông Nhu lại đưa bàn tay đen sẫm toàn vết nám tàn nhang tuổi già của mình lên vò nhàu khuôn mặt mình, lần đầu tiên tôi thấy ông ta nức nở khóc.
Cuộc gặp kết thúc, khi mặt trời đã lặn dần xuống… biển Tây. Bảy Nhu khoác vai ông Tằng, bảo, năm sau nếu ông quay lại, chưa chắc tôi đã còn sống nữa đâu. Hai ông đều khóc, tiếng khóc của họ, nó có cái gì bứt rứt lạ kỳ.
Theo Đỗ Doãn Hoàng
Lao Động