Nhiều chiến sĩ cách mạng đã từng trải qua nhiều nhà tù nên sau ngày hòa bình, được sống sót trở về, với những trải nghiệm "lửa thử vàng" trong ngục tù đế quốc, khi so sánh, các cựu tù đều nói: Không có nhà tù nào tàn khốc hơn Phú Quốc.
Ông Hồ Thành Phương - Nguyên Ủy viên Ban chấp hành đoàn thanh niên phân khu 3, cựu tù binh Phú Quốc ở Long An kể chuyện.
Ông Võ Văn Hiền - nguyên Trưởng ban Liên lạc Cựu tù binh Việt Nam thời chống Mỹ, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra trung ương Đảng, với tư cách là người đã từng bị giam giữ tại trại giam tù binh Phú Quốc, trong hội thảo do Sở Văn hóa - Thông tin Thể thao Kiên Giang tổ chức năm 1995 đã phân tích và so sánh đưa ra nhận định:
“Dưới thời Mỹ - ngụy, chế độ nhà tù rất thâm độc, xảo quyệt, vô cùng tàn bạo đối với tù chính trị cũng như đối với tù binh. Kẻ thù tấn công đánh phá liên tục, từ khi bị bắt đến khi rời khỏi nhà giam, đặc biệt trong thời giam cầm lưu đày, không để người tù yên thân, nhằm "vô hiệu hóa người tù".
Chúng chủ trương tiêu diệt tinh thần cách mạng, thể xác người tù bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt: lừa mị, dụ dỗ, tra tấn dã man, buộc người tù cung khai, đầu hàng, phản bội lại cách mạng, sống trở về cách mạng không tin dùng, bè bạn nhân dân chê trách, oán ghét. Còn người nào giữ được khí tiết thì với chính sách cai trị tù tàn bạo của địch, nếu không chết mòn trong tù, mà còn sống thì cũng tàn phế, khi về không những không còn đủ sức để tiếp tục nhiệm vụ cách mạng, mà còn là gánh nặng của gia đình, của cách mạng”.
Sự tàn khốc của nhà tù khiến trại giam tù binh Phú Quốc tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) mà đã có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật. Để trả lời cho câu hỏi vì sao trại giam tù binh Phú Quốc là nhà tù bị đối xử tàn bạo nhất, ta chỉ cần tìm hiểu thành phần tù binh được đưa đến đây.
Trong số khoảng 40.000 tù binh, có khoảng 12.000 bộ đội chủ lực, địa phương quân (riêng miền Bắc đã có 9.000 người), trên 20.000 là dân quân du kích xã, ấp và cán bộ chính trị. Trong số tù binh này có hơn 2.000 sĩ quan, hạ sĩ quan và trên 100 là cán bộ chính trị có trình độ trung cấp, sơ cấp (trong đó có 10 tỉnh ủy viên, trên 40 huyện ủy viên) và trên 200 chi ủy viên. Phú Quốc là nơi hội tụ tù binh nhiều miền đất nước, gồm học sinh, trí thức, giáo viên, nhà văn, nhà báo, công nhân, nông dân, dân tộc ít người ở Tây Nguyên, người Khơ-me, người Hoa và các tôn giáo, có cả nhà sư, ông lão trên 60 tuổi, có cả các em bé 13, 16 tuổi.
Đặc biệt, trong đó có các chiến sĩ biệt động Sài Gòn từng tham gia đánh vào các mục tiêu đầu não của kẻ thù, như ông Ngô Thanh Vân (Ba Đen) - người duy nhất sống sót trong Đội biệt động 11 gồm 15 chiến sĩ tấn công vào tòa Đại sứ Mỹ đêm mùng 1 tết Mậu Thân 1968. Ông bị thương và bị đày ra Phú Quốc...
Với thành phần ấy, địch xem đó là lực lượng ưu tú, trọng yếu của cách mạng đã tóm được và quyết bằng mọi cách, bằng mọi thủ đọan tra tấn làm tê liệt, vô hiệu, triệt tiêu lực lượng này. Vì chủ trương ấy, nhiều tội ác thời Trung cổ đã diễn ra ở Phú Quốc...
Ở trại giam tù binh Phú Quốc, các nhục hình treo cổ, đổ nước xà bông, tra điện, đóng đinh vào bàn tay, bàn chân vào đầu là chuyện thường ngày. Ông Hồ Thành Phương - nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Phân khu 3, cựu tù binh Phú Quốc ở Long An kể: "Tất cả bọn quân cảnh và giám thị đều có quyền phạt vạ, đánh đập tù binh. Bọn quân cảnh gặp tù binh ở đâu là đánh đó, chủ yếu bằng dùi cui, báng súng, đá bằng giày. Riêng bọn giám thị được sự tiếp tay đắc lực của đám trật tự và ban an ninh, điều hành đã bày ra nhiều hình thức kỷ luật, có những hình thức chẳng khác gì thời Trung cổ.
 |
| Ông Phan Văn Nhẫn (giữa) - cựu tù binh Phú Quốc là điển hình "chứng minh" tài đục răng có một không hai của tên Nhu. Hai lần bị đục răng, Ông Chín Nhẫn mất đến 9 chiếc. Ông đã vẽ lại hình chiếc búa và cái đục - dụng cụ tự chế của tên Nhu dùng để đục răng tù binh. |
Tôi không bao giờ quên được hình phạt đóng kim. Chúng dùng những cây kim chích đã cũ, đóng từ từ vào 10 đầu ngón tay. Loại kim này gây đau đớn nhiều lần so với khi dùng kim mới". Lòng căm thù khiến ông quên hết đau đớn, dùng 10 ngón tay đang bị găm kim ấy chọc vào mắt tên chiêu hồi. Địch hoảng hốt trói ông lại, quậy ớt vào vôi bột, đổ vào mặt vào mũi tù nhân, cho đến khi ông bất tỉnh. Sau đó, chúng gắp kim ra khỏi 10 ngón tay, máu tuôn thành vòi. Kế đó, chúng ném ông vào "chuồng cọp"...
Nhà báo Mỹ Robin Moore trong quyển "Chế độ Sài Gòn - một chế độ trại giam" do Nhà xuất bản Đông Nam Á ở Paris ấn hành cho rằng "chuồng cọp kẽm gai" là phát minh của Lực lượng đặc biệt Mũ nồi xanh của Mỹ. Từ năm 1960, Lực lượng đặc biệt Mũ nồi xanh đã được huấn luyện cách sử dụng "chuồng cọp kẽm gai" trong chương trình đào tạo các chuyên viên Mỹ chống chiến tranh du kích tại Trường huấn luyện Fort Bragg của Hoa Kỳ.
Và loại "chuồng cọp kẽm gai" này đã xuất hiện ở trại giam tù binh Phú Quốc. Đó là loại chuồng cọp làm toàn bằng dây kẽm gai, được đan chằng chịt xung quanh và trên nóc. Chuồng cọp này đặt ở ngoài trời trong phân khu. Mỗi phân khu có đến hai, ba chuồng cọp - loại nhốt 1 người và loại nhốt 3-5 người. Kích thước chuồng cọp rất đa dạng, có loại cho tù binh nằm trên đất cát, có loại buộc tù nhân phải nằm trên dây kẽm gai, mặc cho da thịt bị đâm thủng, có loại chỉ nằm hoặc đứng; có loại chỉ ngồi lom khom; khủng khiếp nhất là loại phải đứng lom khom, không đứng được mà ngồi cũng chẳng được, bởi ngồi xuống phải ngồi trên dây kẽm gai. 
Trầm Hương