Nhà tù Phú Lợi- bằng chứng tội ác
Cập nhật 29/09/2011 14:40
“…Trong một ngày - mồng một tháng mười hai
Nào ai ngờ không có nửa ngày mai!
Chúng tôi chết, trong đêm dài tàn khốc
Đứt ruột đứt gan, nắm cơm thuốc độc
Tím xương do nanh nọc lũ đê hèn
Trái tim hồng chết uất máu bầm đen…”
6 câu thơ được trích trong bài thơ: “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”, được nhà thơ Tố Hữu sáng tác năm 1959 đã trở nên bất hủ, và bất cứ ai đọc qua đều dâng trào niềm căm phẫn về tội ác của Mỹ – Ngụy đối với dân tộc ta. Nhà tù Phú Lợi tại tỉnh Bình Dương nơi đã từng giam giữ và hành hạ dã man hàng ngàn người Việt Nam yêu nước, nay trở thành khu di tích lịch sử Quốc Gia. Một địa điểm của khách tham quan, du lịch văn hóa lịch sử, và đoàn viên thanh niên, học sinh sinh viên tìm về… lật lại trang sử cũ ôn lại những kỷ niệm về một thời oanh liệt; ôn lại sự đấu tranh kiên cường của những tù nhân chính trị tại nơi được mệnh danh là địa ngục trần gian... để càng thấm thía hơn giá trị của cuộc sống yên bình ngày nay. Cuộc sống mà thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh xương máu vì nền độc lập dân tộc, vì hòa bình, hạnh phúc của thế hệ muôn đời sau:
NHÀ TÙ PHÚ LỢI – BẰNG CHỨNG TỘI ÁC
CỦA CHẾ ĐỘ MỸ – NGỤY TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM
Trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, Bình Dương được xác định là địa bàn có ý nghĩa chiến lược (có đường quốc lộ 13 chạy qua, là cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn, nhân dân có truyền thống cách mạng, nhiều căn cứ kháng chiến sát nách Sài Gòn – trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của địch trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ). Chính vì vậy, nơi đây diễn ra cuộc đọ sức hết sức quyết liệt giữa ta và địch. Cả Pháp và Mỹ, thời kỳ nào chúng cũng tập trung trên địa bàn này một lực lượng quân sự lớn với những đơn vị thiện chiến, sử dụng nhiều biện pháp chiến lược, thủ đoạn quân sự tàn bạo cùng nhiều âm mưu thâm độc về chính trị, kinh tế… Đặc biệt, Trong kháng chiến chống Mỹ, một cuộc chiến tranh mà tính chất ác liệt do Mỹ- ngụy gây ra ở tỉnh Bình Dương như một “cơn lũ” tội ác trên mọi phương diện. Đó là đã xây dựng ấp chiến lược kiểu mẫu hòng làm thí điểm cho quốc sách ấp chiến lược của chúng trên toàn miền Nam, với mục đích ép buộc dân vào ấp chiến lược nhằm cắt đứt sự ủng hộ của nhân dân với lực lượng Cách mạng. Địa bàn này cũng là nơi mà lần đầu tiên ở Việt Nam và trên thế giới (ngày 18.6.1965) Mỹ huy động 27 chiếc máy bay B52 ném bom rãi thảm vào Long Nguyên và trên chiến trường này, Mỹ - ngụy thực hiện nhiều cuộc hành quân càn quét lớn vào các căn cứ kháng chiến của ta. Trong nhiều tội ác của chế độ Mỹ – Ngụy gây ra ở tỉnh Bình Dương, còn phải kể đến nhà tù Phú Lợi được mệnh danh là "Địa ngục trần gian" với đủ thứ cực hình tàn khốc nhằm lung lạc ý chí của những người cộng sản. Tàn độc nhất là vụ thảm sát bằng thuốc độc ở Nhà tù Phú Lợi vào ngày 1-12-1958.
Với mưu đồ xâm lược miền Nam, bằng thủ đoạn mị dân, khủng bố đến chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” chỉ trong vòng 2, 3 năm sau Hiệp định Giơ – neo –vơ, Mỹ Diệm gây không biết bao tội ác trên cả miền Nam. Bằng khẩu hiệu “thà bắt nhầm hơn bỏ sót”, chúng đã xây dựng thêm nhiều nhà tù. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, 1 địa bàn gắn liền với sự nghiệp Cách mạng với truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất, có nhiều căn cứ kháng chiến, từ giữa năm 1957, Mỹ Ngụy đã xây dựng Trại giam Phú Lợi ngay bên khu căn cứ quân sự với tổng diện tích 12ha. Chúng chia trại giam thành nhiều khu vực: khu hành chánh, khu gia đình binh sĩ, khu An Trí Viện, cái tên mới nghe qua cứ tưởng là một nơi nghỉ dưỡng nhưng thực chất đây là nơi giam cầm những chiến sĩ yêu nước. Khu trại giam gồm có 3 trại: Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa. Mỗi trại có sức chứa từ 300-500 người. Cả 3 trại có 9 phòng giam đánh dấu A,B,C,D,… mỗi trại ngăn cách nhau bằng bức tường kẽm gai dày đặc. Bao quanh 3 trại là 2 bức tường cao, có mấy lớp kẽm gai, hệ thống đèn điện chiếu sáng vào ban đêm, hoàn toàn cách biệt với bên ngoài. Ở giữa trại giam có nhà vòm cao để quan sát toàn khu trại. Xung quanh có 4 cổng ra vào và 4 lô cốt canh phòng nghiêm ngặt. Có hai cổng chính: cổng thứ nhất mang bảng “Trung tâm cải huấn Phú Lợi”, cổng thứ hai mang bảng “An trí viện”.
Số tù nhân chúng đưa về Phú Lợi đầu tiên có 4 nữ và khoảng 100 nam, cuối 1957 tăng lên 3.000 tù nhân, và đến cuối năm 1958, số tù nhân lên đến gần 6.000 người, trong đó có 1.000 tù nhân là nữ. Anh chị em tù nhân là chiến sĩ Cách Mạng quê quán ở khắp mọi miền đất nước chẳng may rơi vào tay giặc và bị chúng tập trung về đây.
Trước những thủ đoạn vừa khủng bố vừa mị dân, những cảnh tra tấn dã man đày ải cực hình, các chiến sĩ Cách mạng bị giam cầm vẫn giữ được lòng kiên định và ý chí kiên cường chiến đấu. Đầu năm 1958, Đảng ủy Trung tâm Phú Lợi và các chi bộ bí mật được thành lập, lãnh đạo tù nhân từng bước đấu tranh với kẻ thù.
Không lung lay được ý chí kiên trung của người Cộng Sản, Mỹ Diệm đã thực hiện 1 âm mưu thâm độc là bí mật thủ tiêu 450 tù nhân loại A của nhà tù Phú Lợi trong chuyến đi đày ra Côn Đảo vào cuối tháng 11/1958.
Theo kế hoạch mỗi tù nhân bị đày sẽ được nhận khẩu phần bánh mì (có trộn thuốc độc) và thức ăn kèm theo. Tuy nhiên, những ngày này biển động mạnh tàu không ra được vùng biển Vũng Tàu – Côn Đảo, nên bọn chúng đã thực hiện âm mưu này ngay tại nhà tù, lấy bánh mì cũ (có thuốc độc) trộn lẫn bánh mì mới cấp phát cho tù nhân, khiến hàng ngàn tù nhân bị trúng độc. Đứng trước tình hình, tổ chức Đảng Cộng sản trong nhà tù lãnh đạo đấu tranh tố cáo hành động này. Vụ việc lan truyền rộng khắp, gây nên làn sóng căm phẫn không chỉ trong nước mà cả thế giới, cuối cùng nhà tù Phú Lợi buộc phải giải tán vào năm 1964.
30 năm chiến tranh gian khổ, mùa xuân 1975, Miền nam Việt Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, những cựu tù chính trị ngày ấy nhiều người đã hy sinh, những người còn sống mang nhiều vết thương trên cơ thể, và mặc dù tuổi đã cao sức đã yếu, song hàng năm cứ đến dịp kỷ niệm ngày Phú Lợi Căm thù 1/12/1958 hay kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27/7, những cựu tù Phú Lợi tìm về nhau. Sau niềm vui mừng khôn xiết được gặp lại người đồng chí cũ, là niềm đau dâng trào nước mắt với những người đồng đội đã vĩnh viễn ra đi… về lại nhà Tù Phú Lợi, với các cựu tù chính trị, xen lẫn sự bồi hồi xúc động, là những kỷ niệm về sự đấu tranh kiên cường ở nơi “địa ngục trần gian” hiện về như mới ngày hôm qua…. Đây là phòng kỷ luật của nhà tù Phú Lợi, nơi mà hàng ngày diễn ra những cảnh tra tấn dã man đày ải cực hình của bọn cai ngục đối với những người chiến sĩ Cộng sản kiên trung. Ông Đào Văn Tiên, Ông Bùi Văn Sửu, Ông Đoàn Thân Ái là những tù nhân từng bị giam tại đây.
Nghe những câu chuyện và mường tượng sự hành hạ tra tấn đòn roi đối với những người lính giải phóng năm nào chúng tôi không khỏi cảm giác rùng mình và căm phẫn về tội ác của kẻ thù. Những con người chịu đòn roi khốc liệt ấy đang đứng đây, nhỏ bé và bằng xương bằng thịt. Chúng tôi thầm hỏi, sức mạnh nào đã giúp họ vượt qua, để hôm nay, trở thành nhân chứng sống kể cho con cháu nghe một thời hào hùng của lịch sử dân tộc. Phải chăng, đó chính là sức mạnh của cả dân tộc, sức mạnh của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước của những con người chính nghĩa. Tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của người tù Phú Lợi đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh gian khổ, đau thương và mất mát của dân tộc, đi vào thơ ca với những dòng thơ bất hủ về người chiến sĩ trung kiên. Xin được mượn 4 câu thơ xúc động của Hoàng Trung Thông viết về những người tù Phú Lợi ngày ấy:
“Đừng hỏi tên ai còn ai mất
Sáu nghìn người chỉ một tên chung
Chỉ một tên: hòa bình thống nhất
Tên những người bất khuất trung kiên…”
Lịch sử Việt Nam đã sang trang mới, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập kinh tế Quốc tế, từng ngày từng giờ, đất nước chuyển mình đổi mới… song dấu tích đau thương còn lại ở nơi này sẽ mãi mãi là bài học quí giá giúp cho thế hệ muôn đời sau hiểu hơn giá trị của cuộc sống yên bình ngày nay. Xin được đời đời ghi nhớ những câu chuyện về những người con ưu tú của dân tộc quyết tử vì Tổ Quốc, những tấm gương đấu tranh Cách Mạng kiên cường bất khuất, không tiếc máu xương … vì nền độc lập tự do vì hạnh phúc của nhân dân… đó là các anh hùng liệt sĩ, những người chiến sĩ Cách mạng và nhân dân kiên trung. … mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của Cách mạng Việt Nam./.
Hùng Linh – Bích Lan – Văn Việt