Kim Yến
Nhà văn Nguyễn Tuân, lúc sinh thời ao ước khi chết đi, da của Ông sẽ thành miếng da thuộc bọc làm chiếc valise để ông có thể đi khắp mọi nơi trên trái đất này. Xem ra nhà văn quá say mê thú giang hồ phiêu bạt.
Mà đâu phải chỉ nhà văn, nói cho cùng đời người phải chăng cũng chỉ là một sự chuyển dịch không ngừng
Ra đi, dù với hoàn cảnh, tâm cảnh nào cũng là sự chia ly ở một nơi này để hội ngộ ở một nơi khác. Tôi còn nhớ một bài văn trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư tả cảnh một người từ giã làng mạc, nhà cửa, người thân, láng giềng để đi xa,đến cuối bài có một câu cảm thán : “Ôi cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !”..
Cuộc đời và nghề nghiệp của tôi đã chứng kiến không ít những cuộc chia ly xé lòng, và những cuộc hội ngộ, trùng phùng mừng vui mà sao nước mắt cứ tuôn trào.
Năm 1981, tôi có làm việc cho văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về người tỵ nạn ( UNHCR ) tại Việt Nam, phiên dịch cho phái đoàn phỏng vấn người VN đi đoàn tụ với thân nhân tại Hoa Kỳ.
Hàng tuần mỗi thứ năm,chỉ có một chuyến máy bay Air France đưa người Việt Nam xuất cảnh, hàng tuần tôi đều ra sân bay cùng đại diện phái đoàn làm thủ tục cuối cùng. Ngày đó một người ra đi hàng trăm người đưa tiễn, sân bay nhốn nháo, nước mắt nhiều hơn nụ cười, người đi kẻ ở biết bao giờ gặp lại, nhất là những ông già bà cả, đoàn tụ với con bên Mỹ thì xa lìa với con ở Việt Nam, mếu máo bước đi mà người như muốn sụp ngã xuống.
Rồi còn những cuộc ra đi âm thầm, trốn chạy không người đưa tiễn cũng không thể tiễn đưa: đó là những cuộc vượt biển trong đêm tối kinh hoàng lúc đó con đường sống mong manh như sợi chỉ.
Em trai tôi, người đã chia tay tôi lặng lẽ trong một đêm tháng 4 năm 1980, em xé một tờ vé số làm hai, “chị giữ một nửa, em giữ một nửa, khi nào có người cầm một nửa của em đến gặp chị, có nghĩa là em đã đến nơi an toàn, chị giao cho họ nốt số tiền còn lại chị nhé.”
Em tôi đã không đến được một bờ bến nào. Năm năm sau ngày em đi và mất tích không dấu vết, mẹ tôi đã lập một bàn thờ cầu siêu cho em. Tôi đã đốt một nửa tờ vé số còn lại, tôi cầu nguyện cho em : “thôi thì Đất không dung thân em, em hãy về Trời mà sống em nhé.”
Những ngày tháng làm việc ở UNHCR, tuy lương cao, điều kiện làm việc tốt, mà sao tôi buồn quá, mỗi lần ra sân bay là nước mắt cứ chảy theo người ta.
Có lần tôi nói đùa với mấy người bạn cùng làm việc :
“ Có lẽ vì dân Việt Nam mình là con cháu của ông Lạc Long quân và bà Âu Cơ, hai ông bà này đẻ ra 100 người con, đang sống yên lành, hạnh phúc mắc mớ gì không chịu sống chung với nhau mà ông đem 50 đứa lên núi, bà đem 50 đứa xuống biển. Đây có lẽ là cuộc chia tay, cuộc ly hôn đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tại hai ông bà cho nên con cháu bây giờ mới ly tán khắp bốn phương trời..”
Đem truyền thuyết ra để nói cho vui, lòng tôi vẫn nghĩ nếu chúng ta luôn sống với niềm hy vọng rằng chia ly chỉ là chuẩn bị cho một cuộc hội ngộ mới thì chúng ta sẽ bớt đau khổ và niềm hy vọng sẽ có một ngày thành sự thật.
Đúng vậy, nó đã trở thành sự thật vào năm 1986, khi chuyến máy bay IL chở hơn 100 kiều bào Việt Nam lần đầu tiên về nước du lịch và thăm thân nhân, trong đó có những người mới xuất cảnh năm 1982, những người di tản năm 1975, và vượt biển năm 1978.
Tôi bắt đầu học việc, làm thuê, rồi theo nghề dịch vụ du lịch, có lẽ xuất phát ban đầu từ ý nguyện của bản thân muốn qua con đường du lịch, những cuộc chia ly từ những năm tháng cũ sẽ thành những buổi hội ngộ trùng phùng
“ Như chưa hề có cuộc chia ly” .ngành du lịch, ngành công nghiệp không khói trong một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, cấm vận và bị cấm vận như VN, buổi đầu đã có khả năng làm được những điều tuyệt vời ấy.
Hạnh phúc của một người là được làm một công việc mà mình yêu thích, công việc đó có thể nuôi sống mình một cách đàng hoàng, chân chính, mang lại lợi ích và niềm vui cho chính mình và cho cả người khác, trong đạo Phật gọi là “chánh mạng”. Tôi đã có được hạnh phúc đó từ buổi “tam thập nhi lập” cho đến bây giờ, khi có những ngày tháng nhàn hạ ở tuổi về hưu, ngồi nhớ lại chuyện xưa tích cũ, nhớ lại những nơi mình đã đi qua, từ mũi đất nhọn nhất trên bản đồ chữ S thuộc tỉnh Hà Giang, cho đến mũi đất bồi tận cùng của tỉnh Cà mau: thật là đẹp muôn màu, muôn vẻ. Tôi muốn ghi lại, muốn chia sẻ với những ai từng cảm nghiệm sâu sắc một trong 8 cái khổ của con người : đó là “ái biệt ly khổ” ( khổ vì phải biệt ly với những người và những gì mình thương quý nhất ), xuyên qua cuộc đời của một nàng công chúa hoàng tộc triều Trần: công chúa Huyền Trân.
“Nước non ngàn dặm ra đi” của Huyền Trân là nguồn cảm hứng cho những người làm du lịch mỗi khi đưa du khách đến thăm vùng đất Thừa thiên- Huế (còn gọi là Thuận Hóa, tức là 2 châu Ô và Lý của vương quốc Chiêm Thành xưa). Trang quốc sắc thiên hương đã hy sinh tình riêng, từ giả hoàng tộc, quê hương lên đường làm vợ vua Chế Mân, nước Chiêm thành, bà là người phụ nữ mà nhà sử học Phan Huy Lê đã đánh giá : “đã có công vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước Đại Việt và ở vương quốc Champa, góp phần làm mở mang bờ cõi, xây dựng nước Đại Việt dài hơn và to đẹp hơn”.
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục : “ Tháng 3 năm Tân Sửu (1301) hiệu Hưng Long thứ 9 đời vua Trần Anh Tông, lúc bấy giờ Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông sau 14 năm trị vì đã truyền ngôi cho con là Thái tử Trần Thuyên đi tu ở núi Yên tử, thường muốn lịch lãm núi sông trong thiên hạ, nên mới du phương rồi sang Chiêm Thành.”
Thái thượng hoàng viễn du phương Nam, đến đất Chiêm thành ở khá lâu khoảng 9 tháng. Trong thời gian ở Chiêm thành được vua Chế Mân tiếp đón nồng hậu. Không rõ Thượng hoàng vân du có ý định mở mang bờ cõi về phương Nam hay không, hay là dưới con mắt của một nhà chiến lược quân sự thiên tài - muốn dẹp cái họa xâm lăng phương Bắc cần phải bình ổn láng giềng phía Nam (?) cũng có thể Ngài có cảm tình với vị vua trẻ tuổi, tài cao, một con người được mô tả là cao lớn, dáng vẻ hào hoa phong nhã mà không kém phần uy dũng của một quân vương, chủ nhân của một vương quốc hùng mạnh, có nền văn hóa và nghệ thuật đặc sắc, rực rỡ. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã hứa gã Huyền Trân cho Chế Mân tức vua Jaya Simha Varman III.
Tiếng đồn về nhan sắc của Huyền Trân làm nao lòng trái tim quân vương si tình, dù Chế Mân đã lập gia đình với người con gái xứ Java ( Indonesia ngày nay ) là hoàng hậu Tapasi, nhưng vẫn cho đoàn tùy tùng hơn 100 người do Chế bồ Đài tiến về Thăng Long cống dâng những báu vật để làm lễ cầu hôn. Triều đình hoang mang trước quyết định của Thái Thượng Hoàng, hoàng thân quốc thích lên tiếng phản đối, làm sao có thể gả công chúa thông minh, xinh đẹp, tài ba ( giỏi văn thơ, khéo thêu thùa..) về cái xứ Chàm “man rợ”! ( đã có trong dân gian ca dao nói về thân phận không xứng đôi vừa lứa của công chúa Huyền Trân khi lấy chồng xa xứ )
“ Tiếc thay cây quế Châu Thường
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo ”
Không ai biết Thái Thượng Hoàng nghĩ gì khi quyết định như thế, nhưng một người giác ngộ đạo Phật khi còn rất nhỏ, xem “ngai vàng như đôi dép rách”, rời ngôi báu lên núi tu, hẵn Ngài đã chiêm nghiệm chiến tranh là chuyện bất đắc dĩ, chiến tranh không phải là trò chơi con trẻ mà người thắng chưa chắc đã nguyên vẹn, lành lặn. Trong lịch sử nhiều thế kỷ qua, hai nước Chiêm thành và Đại Việt đã từng “nói qua nói lại, đánh qua đánh lại” máu lương dân hai nước đã chảy thành sông, thây đã phơi đầy núi. Thái Thượng Hoàng trình bày rõ ràng ý định của mình: việc gã công chúa Huyền Trân là đường lối chính trị hiếu hòa có tầm quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đại Việt.
Kết tình giao hảo, cống nạp báu vật suốt năm năm trời, mà việc gả công chúa vẫn chưa thấy tin vui, ông vua trẻ tuổi si tình xin dâng sính lễ bằng hai châu Ô và Lý ( vùng đất phía Nam sông Hiếu, tỉnh Quảng trị, đến bờ Bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay ).
Tháng 6 năm Bính Ngọ ( 1306 ) kinh thành Thăng Long tiễn công chúa Huyền Trân -“huyền ngọc quốc bảo”- về nhà chồng.
Chính sử kể về nàng không nhiều nhưng huyền sử thật là phong phú. Người ta nói đến mối tình thuở “ cài trâm” của nàng với vị quan trẻ tuổi Trần Khắc Chung, vốn là một thanh niên tuấn tú, 16 tuổi đậu Tiến sỹ, 17 tuổi được phong làm Nhập Nội Hữu Tụng Quan ( chức vụ chuyên đọc giảng sách cho Đông cung thái tử và hoàng tử ), 24 tuổi được vua Anh Tông phong Thượng Thư Chính sử Hiệp Biên theo Trương Hán Siêu cầm đầu phái bộ sứ thần sang nhà Nguyên cầu hòa. Cũng có chỗ tài liệu ghi Trần Khắc Chung tên thật là Đỗ Khắc Chung, làm quan bốn đời trong triều nổi tiếng nghiêm minh, liêm khiết được vua tin dùng, cho phép đổi họ Đỗ lấy họ Trần trở thành hoàng thân quốc thích. Ông đã có vợ con và hơn công chúa đến 20 tuổi. Vì là huyền sử “mờ mờ ảo ảo” nên mối tình éo le, say đắm của công chúa đã được thêu dệt thêm để cuộc chia ly của nàng tăng phần lãng mạn.
Trở thành hoàng hậu Paramesvari hơn một năm, thì vua Chế Mân băng hà ( 1307 ). Theo tục lệ người Chiêm, vua qua đời hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để tỏ lòng chung thủy.Vua Trần Anh Tông, sau khi được báo tang, triều đình gửi một phái bộ sang Chiêm thành để chia buồn, nhưng ý định là thực hiện “ nhiệm vụ giải cứu” công chúa khỏi tục lệ “phu tử tòng tử”. Tháng 10 vua sai An Phủ Sứ Đặng Vân cùng với Trần Khắc Chung và đoàn tùy tùng theo đường biển đến kinh đô Đồ Bàn “lập kế” đưa công chúa xuống thuyền về nước.
Huyền sử cũng có nói đến nhiệm vụ giải cứu của phò mã “hụt” Trần khắc Chung và mối tình thầm kín của ông với công chúa giờ đây đã được tỏ bày trước trời nước mênh mông. Đôi trai tài gái sắc ngao du mãi đến mùa thu tháng 8 năm Mậu Thân ( 1308 ) công chúa về đến Thăng Long, hội ngộ với hoàng gia, đất tổ.
Tháng 11 cùng năm, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông qua đời.
Theo di mệnh của cha, năm sau (1309), công chúa xuất gia quy Phật ở núi Trâu Sơn ( tỉnh Bắc Ninh ngày nay ), thọ Bồ Tát giới được Quốc Sư Bảo Phát ấn chứng, ban cho pháp danh Hương Tràng.
Hai năm sau, năm 1311, thừa lệnh Bổn sư, Ni sư Hương Tràng xuống núi lập am tranh thờ Phật sống đời đạo hạnh, khuyến dân thực hành phép tu Thập Thiện, lập vườn làm thuốc chữa bệnh cho dân, nhờ duyên lành phổ độ, am tranh thành chùa Nộn Sơn ( tức Quãng Nghiêm Tự ) thuộc làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bảo nay là tỉnh Nam Định.
Sau mấy chục năm làm Phật sự, tháng giêng năm Canh Thìn ( 1340 ) Ni sư xã báo thân an nhiên trở về cõi Tịnh, dân chúng kính ngưỡng công đức vô lượng của Ni sư, tôn thành Thần Mẫu lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn.
Một đời công chúa tận tâm với quốc gia xã tắc, thác thì hiển linh phò giúp dân lành, suốt mấy triều vua kế tiếp công chúa được tôn vinh thành Thần Hộ Quốc, dưới thời các vua triều Nguyễn, công chúa lại được sắc phong là “Trai Tịnh Trung Đẵng Thần”.
Một ngày tháng 5 , trở lại Huế xưa, tôi có duyên lành được đến viếng Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Huyền Trân. Nhân dân và chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế nhớ ơn công đức Huyền Trân năm xưa đã dấn thân ngàn dặm ra đi mở nước nên đã cho phép công ty du lịch Hương Giang xây dựng quần thể du lịch văn hóa tâm linh nơi có điện thờ Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và điện thờ công chúa trên một không gian rộng khoảng 30 ha, nằm ở phía Nam sông Hương, cách kinh thành Huế khoảng vài dặm, dưới chân núi Ngũ phong được xem là danh thắng đắc địa.
Đền thờ Huyền Trân Công Chúa
Xem nguyên tập hình Trung tâm Du lịch Văn hóa Huyền Trân
![]()
Lại nói về công ty du lịch Hương Giang, vị giám đốc chủ trì xây dựng công trình này là một người con xứ Huế. Năm 1986, khi bắt đầu khởi nghiệp, lần đầu tiên tôi đưa đoàn khách đến ở tại khách sạn Hương Giang, anh là nhân viên phục vụ bàn, sau anh thành bếp trưởng, rồi thành quản lý và giám đốc công ty. Anh cũng như tôi, bắt đầu làm thợ, làm thuê rồi mới làm chủ, và anh đã thành công. Thành công không phải vì sự xuất hiện của những khách sạn 4, 5 sao mà công ty anh là đối tác đầu tư, thành công chính là việc công ty anh đã khởi dựng và hoàn thành viên mãn công trình Trung tâm văn hóa du lịch Huyền Trân, theo tôi có một giá trị văn hóa, giáo dục rất cao về truyền thống uống nước nhớ nguồn, và chính nó đã “nâng cấp” thành phố Huế “thêm một sao”. (+ * ).
(Đức Phật dạy con người mang bốn ơn nặng ( tứ trọng ân ) : ơn Cha Mẹ sinh thành dưỡng dục, ơn Thầy dạy bảo, truyền trao kiến thức, ơn Quốc gia xã hội, và ơn đàn na thí chủ ( những người đã cho, đã làm ra phương tiện cho ta sống, như người nông dân làm ra gạo cho ta ăn, người thợ dệt vải cho ta mặc ).
Huế vốn là như thế, miền đất lịch sử thăng trầm, đậm đà bản sắc, hồn phách dân tộc, tôi là người gốc miền Bắc, sinh ra và lớn lên ở miền Nam, nhưng Huế luôn thắp sáng trong tôi một Tình yêu lớn.
Tôi có nhiều bạn, mà những người bạn tốt nhất, thân nhất,dạy bảo, giúp đỡ tôi nhiều nhất phần lớn là người gốc Thừa thiên- Huế. Ngày tôi tâm sự với một chị bạn lão thành người Huế - tuổi chị trạc như mẹ tôi mà chị xem tôi như em gái - : rằng có thể tôi sẽ rời VN để định cư, sống với con gái tôi ở Úc những năm sắp đến, chị đã rớm rớm nước mắt : “Răng mà đi vậy em, đừng đi em nợ”.
Rồi tôi lại tâm sự với một vị Thầy cũng người gốc Huế chuyện đi ở của tôi, tôi nghe Thầy nói mà “tỉnh” cả người : “ Đi hay ở cũng là chỗ tạm con à, con học Phật mà không lo chuẩn bị chuyến đi cuối cùng của con. Sinh ly đã khổ, còn tử biệt đến hồi mô không hay.”
Thầy dạy làm tôi thức tỉnh, tỉnh đến nổi tôi không dám .làm biếng, giải đãi nữa.
Hôm nào nhờ Thầy nhắc nhở “hành lý” nào con phải mang theo khi phải “chia ly” cuộc đời này, Thầy nhé.
Chắc Thầy sẽ chau mày nói : " hành lý là cái nghiệp của con đó , muốn khỏi mang thì phải buông, học Phật mà hỏi Thầy câu đó thì đáng bị quỳ 10 cây nhang " (!)
Kim Yến
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn