Chuyên gia quốc tế đánh giá về bước tiến của giáo dục Việt Nam

Ngày đăng : 07:16, 25/01/2021

Đánh giá về giáo dục Việt Nam 5 năm vừa qua, GS.TS Paul Glewwe - Trường Đại học Minesota - chuyên gia và nghiên cứu viên chính của dự án Nghiên cứu cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam” (RISE) - cho rằng, giáo dục Việt Nam đã có nhiều bước tiến, luôn thuộc nhóm những nước có kết quả tốt.

Dự án RISE nhằm mục đích tìm hiểu sự phát triển và kết quả của các chính sách giáo dục ảnh hưởng tới giáo dục phổ thông (bao gồm giáo dục tiểu học, THCS và THPT) nhằm cải thiện nền giáo dục của Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Trong khuôn khổ Hội nghị Tư vấn lần thứ tư cho Dự án “Nghiên cứu cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam” (RISE) được tổ chức bởi Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Đại học Minnesota (Hoa Kỳ) mới đây, GS.TS Paul Glewwe và GS.TS Joan Dejaeghere - những nghiên cứu viên chính của dự án - đã có những chia sẻ về giáo dục Việt Nam giai đoạn vừa qua và định hướng cho giai đoạn tới.

Giáo dục Việt Nam thuộc nhóm những nước có kết quả tốt

GS.TS Paul Glewwe cho rằng, trước tiên nếu xét kết quả PISA (kết quả đánh giá học sinh quốc tế), có thể thấy Việt Nam vẫn giữ vững đà phát triển. Năm 2018, Việt Nam vẫn luôn thuộc nhóm những nước có kết quả tốt. Điều này cũng thể hiện qua việc Việt Nam có tỉ lệ nhập học sát mức 100% ở bậc Tiểu học và rất cao - trên 90% ở bậc THCS.

Nhìn nhận về việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam thời gian qua và vai trò “quyết định” của đội ngũ giáo viên, GS.TS Paul Glewwe nhận định: Rõ ràng giáo viên có tầm ảnh hưởng rất lớn. Mặc dù kết quả của học sinh cũng chịu tác động từ môi trường ở nhà của các em nhưng vai trò của giáo viên là rất rõ rệt. Đây cũng là kết quả chung được ghi nhận ở các nước trên thế giới, không chỉ riêng Việt Nam.

GS.TS Paul Glewwe
GS.TS Paul Glewwe. Ảnh: B.Hà

Chia sẻ về kết quả mà dự án đã thu thập được liên quan đến việc tổ chức dạy học trực tuyến ở Việt Nam, GS.TS Paul Glewwe cho biết:

Chúng tôi thu thập kết quả học và kiểm tra cả hai nhóm học sinh ở thời điểm các em kết thúc lớp 3 năm 2019 (không bị ảnh hưởng bởi COVID) và năm 2020 (bị nghỉ học gián đoạn vì COVID).

Theo lẽ thông thường chúng ta sẽ nghĩ lứa học sinh bị nghỉ học vì giãn cách xã hội sẽ có kết quả kiểm tra thấp hơn lứa năm trước. Tuy nhiên, kết quả cho thấy điều ngược lại, các em lớp 3 năm 2020 có sự tiến bộ hơn trong học tập. Điều này chỉ ra rằng trong thời gian nghỉ tại nhà, các em vẫn duy trì việc học và đạt đến một mức chất lượng nhất định.

“Như vậy, việc duy trì học tập trong thời kì COVID của học sinh Việt Nam thực sự diễn ra và có kết quả” - GS.TS Paul Glewwe chia sẻ.

Từ kết quả này, GS.TS Paul Glewwe cho rằng, nếu trong 5 năm tới, Việt Nam đầu tư nhiều hơn vào việc nâng cao hạ tầng kĩ thuật phục vụ giáo dục trực tuyến, kết quả thu được sẽ còn khả quan hơn nữa. Đây là vấn đề quan trọng cần được quan tâm đầu tư xứng đáng để gia tăng tỉ lệ tiếp cận giáo dục và thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm thu nhập và vùng miền.

Biểu đồ tỉ lệ học sinh VN tham gia học trực tuyến.

Chương trình GDPT mới là bước tiến quan trọng của giáo dục Việt Nam

Nhìn lại kết quả của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, GS.TS Joan DeJaeghere nhận định: Bên cạnh những thành tựu trong tỉ lệ nhập học, tỉ lệ tốt nghiệp các bậc giáo dục cơ bản, cũng như thành tích đầu ra, giai đoạn này còn là lúc Việt Nam chú trọng tới chất lượng đào tạo trong tương quan với những đòi hỏi của thị trường lao động về chất lượng nhân sự trong kỉ nguyên số.

GS.TS Joan DeJaeghere.

“Tôi nhận thấy một bước tiến quan trọng của giáo dục Việt Nam là chương trình mới thể hiện sự chuyển dịch theo hướng tiếp cận phát triển năng lực, mặc dù còn những tranh luận ở thời điểm mới bắt đầu. Rõ ràng đây là nỗ lực rất lớn của Chính phủ nằm trong kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” - GS.TS Joan DeJaeghere cho hay.

Gợi ý về giáo dục Việt Nam trong 5 năm tới, GS.TS Paul Glewwe khẳng định: Giáo dục Việt Nam đang trên đà phát triển rất nhanh và trong tương lai chúng ta có thể dự đoán rất nhiều thay đổi sẽ diễn ra với tốc độ chóng mặt. Với thực tiễn như vậy, Việt Nam rất cần triển khai các nghiên cứu sâu rộng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chính sách/biện pháp mới được ban hành và áp dụng.

“Điều này đặc biệt quan trọng khi chúng ta muốn tìm hiểu về mức độ chênh lệch và khác biệt giữa vùng miền, giữa các đơn vị đào tạo trong khẳng định.

Báo Lao động