Thuyết tiến hóa Darwin: Đã đến lúc chấm dứt sự lừa dối vĩ đại

15/01/2018 08:57

(kbchn) - Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ ngày nay, tính ngụy khoa học và phản tự nhiên của thuyết tiến hóa đã lộ ra rõ ràng đến nỗi những người không chuyên ngành về sinh học cũng có thể nhận thấy.

14/1/2018

  • Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ ngày nay, tính ngụy khoa học và phản tự nhiên của thuyết tiến hóa đã lộ ra rõ ràng đến nỗi những người không chuyên ngành về sinh học cũng có thể nhận thấy. Điển hình là trường hợp của Phillip Johnson, một giáo sư luật tại Đại học California ở Berkeley, trở thành một trong những nhà tiên phong trong sự nghiệp giành lại sự thật cho sinh học – tố cáo sự vi phạm luật tự nhiên của học thuyết Darwin. Trong hơn 20 năm qua Johnson liên tiếp cho ra mắt một loạt tác phẩm phê phán thuyết tiến hóa, thậm chí với tư cách một học giả về luật pháp, ông nêu câu hỏi thách thức: “Thuyết tiến hóa có thể chứng minh được tại một phòng xử án hay không?” (Can Evolution be proved in a courtroom?).

    Câu hỏi ấy là lời giới thiệu cuốn “Darwin on Trial” (Darwin được đem ra xét xử) xuất bản năm 1991. Năm 1997, ra mắt cuốn “Defeating Darwinism by Open Minds” (Đánh bại học thuyết Darwin bằng tư duy mở). Năm 2006, ra mắt cuốn “Darwinism’s Nemesis” (Sự báo ứng đối với Darwin),….

    Richard Dawkins là một nhà tiến hóa học nổi tiếng. Khi được hỏi “liệu ông có bằng chứng nào để chứng minh cho sự tiến hóa hay không?”, Dawkins đã ngớ người ra, im lặng suy nghĩ một lúc rất lâu không trả lời được, đơn giản vì làm gì có bằng chứng (tìm xem video “Richard Dawkins stumped by creationists’ question” (Richard Dawkins bị bí bởi câu hỏi của những người theo thuyết sáng tạo). Còn đây là thêm 2 videos bác bỏ Darwin:

    The Great Evolution Hoax (Trò đánh lừa vĩ đại về tiến hóa)
    https://www.youtube.com/watch?v=w8k_Ja34ymQ

    DNA is the Greatest Enemy of Evolution Theory (DNA là kẻ thù lớn nhất của Thuyết Tiến hóa)
    https://www.youtube.com/watch?v=ZHQYj3xfo9w

    Toàn bộ thuyết tiến hóa, kể từ cuốn “Về nguồn gốc các loài” (1859) và cuốn “Nguồn gốc loài người” (1871) của Darwin đến những lý thuyết hiện đại sau này, đều là những giả thuyết tưởng tượng, những phỏng đoán không chắc chắn. Phỏng đoán “vĩ đại” nhất của Darwin là sự tồn tại của những thế hệ quá độ chuyển tiếp giữa các loài – vì sự tiến hóa diễn ra liên tục và dần dần tứng tí một (continuously and gradually) nên nếu loài A tiến hóa để biến thành loài B thì ắt phải có những loài trung gian nằm giữa A và B, được gọi là những thế hệ hay những mắt xích quá độ chuyển tiếp trong chuỗi tiến hóa từ A đến B. Những thế hệ này đã tuyệt chủng, nhưng theo Darwin, hóa thạch của chúng ắt phải nằm dưới lòng đất với số lượng lớn, và trước sau khoa học sẽ tìm thấy và phải tìm thấy. Nhưng phỏng đoán ấy càng “vĩ đại” bao nhiêu thì Darwin càng lo lắng bấy nhiêu về việc liệu có tìm thấy lượng hóa thạch đó hay không. Nếu không, lý thuyết của ông sẽ lâm nguy. Vâng, chính Darwin đã bầy tỏ nỗi lo lắng này trong cuốn “Về nguồn gốc các loài” (Chương 9) như sau:
    “… số lượng những sinh vật chuyển tiếp quá độ, vốn đã tồn tại trên trái đất, thật sự là khổng lồ. Nhưng tại sao mọi tầng vỉa địa chất không chất đầy những mắt xích chuyển tiếp quá độ đó? Khoa địa chất chắc chắn không tìm thấy bất kỳ một sợi dây xích hữu cơ biến đổi dần dần từng tí một nào như thế; và có lẽ điều này là sự chống đối rõ ràng nhất và nghiêm trọng nhất có thể được nêu lên để chống lại lý thuyết của tôi”.

    Có nghĩa là ngay trong thời của Darwin, người ta đã ra công đào xới, tìm kiếm hóa thạch của các thế hệ chuyển tiếp quá độ, và không tìm thấy gì cả. Từ đó đến nay, 156 năm đã trôi qua, kể từ ngày cuốn “Về nguồn gốc các loài” ra đời, vẫn chẳng hề tìm thấy gì cả. Thời gian đã quá đủ để thấy sự thật, rằng KHÔNG TỒN TẠI những thế hệ chuyển tiếp, đơn giản vì KHÔNG CÓ SỰ TIẾN HÓA. Nói cách khác, phỏng đoán “vĩ đại” của Darwin là SAI – sai vì tin rằng có tiến hóa.

    Một lần nữa xin nhấn mạnh rằng Darwin ý thức rất rõ rằng vấn đề hóa thạch sẽ quyết định “sinh mạng lý thuyết” của ông. Bằng chứng là ông dành hẳn một chương trong cuốn “Về nguồn gốc các loài” để bàn về vấn đề này. Đó là Chương 9, nhan đề “On the Imperfection of the Geological Record” (Về thiếu sót trong hồ sơ địa chất), trong đó ông viết: “Sự giải thích, như tôi tin, nằm trong sự cực kỳ thiếu sót của hồ sơ địa chất”.

    Thế đấy, Darwin đã cảnh báo rằng hồ sơ địa chất (tìm hóa thạch) là cực kỳ thiếu sót.

    Đó là lý do để các đệ tử của Darwin phải tìm mọi cách lấp đầy khoảng trống tiến hóa từ vượn lên người. Họ dựng lên bức tranh tiến hóa “rất đẹp” từ vượn lên người, rồi cho phổ biến rộng rãi, nhằm tiêm nhiễm vào đầu óc mọi người, đặc biệt là trẻ em, rằng thuyết tiến hóa là một sự thật. Với công nghệ 3D hiện đại, nhiều bức tranh tiến hóa được bịa ra bằng những xảo thuật đánh lừa bậc thầy (hình đi kèm là một ví dụ).

    Nhưng những hóa thạch mà họ lấp đầy khoảng trống từ vượn lên người thực ra đều là những là những loài khỉ hoặc vượn 100% đã tuyệt chủng, hoặc đôi khi là hóa thạch người 100% thời tiền cổ đại. Họ lừa được đa số mọi người, vì đa số là những người không chuyên. Nhưng họ không lừa nổi các chuyên gia sinh học trung thực. Chẳng hạn như Michael Denton, một nhà sinh học phân tử nổi tiếng của Úc, tác giả cuốn “Evolution: A Theory in Crisis” (Tiến hóa: Một lý thuyết đang khủng hoảng), xuất bản năm 1985, trong đó viết:
    Bất chấp những nỗ lực khổng lồ trong việc đào xới địa chất ở khắp nơi trên trái đất và bất chấp việc khám phá ra nhiều dạng động vật kỳ lạ trước đây chưa hề biết, số lượng vô cùng lớn những mắt xích liên kết chuỗi tiến hóa bị mất tích vẫn chưa được tìm thấy và hồ sơ hóa thạch hầu như vẫn gián đoạn như khi Darwin viết cuốn Về Nguồn gốc các loài”.

    Hoảng sợ trước việc không tìm thấy hóa thạch dưới lòng đất, các nhà tiến hóa nghĩ ra cách tìm “hóa thạch sống”. Đó là trường hợp đầu thế kỷ 20, họ đổ vấy cho người Aborigines (thổ dân) ở Australia chính là một loại “người-khỉ/khỉ-người” – một trong những cái được gọi là missing links (mắt xích chuyển tiếp bị mất tích) mà họ cần tìm kiếm để cứu vãn thuyết tiến hóa. Những cuộc truy lùng, săn bắt, thảm sát thổ dân đã diễn ra nhằm lấy hộp sọ nghiên cứu. Đó là một trang lịch sử đen tối của Úc, một vết thương âm ỉ trong lòng xã hội Úc đến nay vẫn chưa lành. Ngày nay ai cũng biết rõ đó là một tội ác của những kẻ nhân danh thuyết tiến hóa, vậy mà thuyết tiến hóa vẫn được tung hô, bằng cách bịt mắt lại để không nhìn thấy những hậu quả phi nhân mà nó đã gây ra trên thế giới, đỉnh cao là chủ nghĩa quốc xã Đức đầu thế kỷ 20. Phải mất nhân tính đến mức độ nào nữa thì người ta mới đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào sự thật để kết tội thuyết tiến hóa? Câu hỏi của Grenville Kent trên tạp chí SIGNS of the Times của Australia: “What Darwin taught Hitler?” (Darwin đã dạy Hitler điều gì?) vẫn không có nhà tiến hóa nào dám lên tiếng trả lời. Họ biết trả lời sao đây? Bởi chính ông thầy của họ, Charles Darwin đã dạy họ rằng “trong một thời gian không xa lắm, có thể tính bằng số thế kỷ, các chủng tộc văn minh hầu như sẽ tiêu diệt các chủng tộc man rợ trên khắp thế giới”.

    Không có Học thuyết Darwin, đặc biệt các lý thuyết con của nó như thuyết ưu sinh và Darwin xã hội, cả Hiler lẫn những phần từ quốc xã đi theo hắn đều sẽ không có một chỗ dựa khoa học cần thiết để tự thuyết phục mình và thuyết phục những kẻ hợp tác với chúng rằng một trong những sự độc ác kinh khủng nhất lại thực sự đáng được ca ngợi về mặt đạo đức” (Richard Weikart, nhà lịch sử tại Đại học Tiểu bang California).

    Đó là hệ quả tất yếu của lý thuyết đấu tranh sinh tồn mạnh được yếu thua, cái được coi là động lực của tiến hóa. Hitler chỉ đơn giản là áp dụng lý thuyết đó vào xã hội loài người mà thôi. Chính Darwin đã lát đường cho Hitler! Chính Darwin đã cung cấp cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc một cơ sở ngụy khoa học để nó tiến hành những hành vi phản nhân loại nhân danh tiến hóa. Lý Tôn Ngô ở Trung Hoa đầu thế kỷ 20 đã vạch trần bản chất phi nhân này trong học thuyết Darwin.

    Nhưng học thuyết Darwin mất uy tín không chỉ vì chủ nghĩa quốc xã. Lý do chủ yếu để nó mất uy tín là ở bản chất phi khoa học, hay chính xác hơn, bản chất phản khoa học của nó.

    Nó phi khoa học vì vô bằng chứng: “Lý thuyết của Darwin về nguồn gốc các loài không có lấy một sự kiện thực tế nào để xác nhận nó trong thế giới tự nhiên. Nó không phải là kết quả của nghiên cứu khoa học, mà thuần túy chỉ là sản phẩm của tưởng tượng” (trích đoạn trang 13, cuốn Witnesses Against Evolution (Những bằng chứng chống lại thuyết tiến hóa) của John Meldau, do Christian Victory Publishing xuất bản năm 1968 tại Denver, Mỹ).

    Nó phản khoa học vì toàn bộ lý thuyết của nó dựa trên một cơ chế phi hiện thực – sự chọn lọc tự nhiên dẫn tới những biến dị có lợi qua hàng triệu, hàng tỷ năm biến loài này thành loài khác. Michael Denton gần như giận dữ bác bỏ cơ chế này:

    “Không ở đâu Darwin có thể chỉ ra một trường hợp đích thực của chọn lọc tự nhiên đã thực sự gây ra biến đổi tiến hóa trong tự nhiên… Rốt cuộc, lý thuyết tiến hóa của Darwin không hơn không kém một câu chuyện hoang đường về nguồn gốc vũ trụ trong thế kỷ 20” (trích trang 62, 358, “Evolution, A Theory in Crisis” (Tiến hóa: Một lý thuyết trong khủng hoảng) của Michael Denton, NXB Adler & Adler, Maryland, Mỹ, 1986).

    Khoa học chưa từng chứng kiến một biến dị có lợi nào. Ngược lại, hầu hết biến dị đều dẫn tới bệnh tật, hủy hoại sinh vật. Chọn lọc tự nhiên, một cơ chế tưởng tượng, không “dại gì” mà lựa chọn những biến dị có hại. Nói cách khác, chọn lọc tự nhiên không hoạt động, hay chính xác hơn, không có chọn lọc tự nhiên.

    Toán học chứng minh rằng xác suất để xẩy ra liên tiếp hàng triệu, hàng tỷ những biến dị “có lợi” trong quá trình “tiến hóa” hàng triệu, hàng tỷ năm là một đại lượng coi như bằng 0, cơ may để biến dị dẫn tới tiến hóa là hoàn toàn KHÔNG CÓ. Chọn lọc tự nhiên là một khái niệm tưởng tượng. Chọn lọc tự nhiên dẫn tới tiến hóa là chuyện hoàn toàn hoang đường!

    Các nhà tiến hóa đã tiến hành những thí nghiệm hòng tạo ra những biến dị làm thay đổi loài. Nhưng họ thất bại thảm hại. Chẳng hạn, họ đã thực hiện những thí nghiệm chiếu xạ hoặc tác động hóa học đối với ruồi giấm trong hơn 1500 thế hệ. Kết quả, ruồi vẫn là ruồi, ruồi chẳng hề biến thành bất cứ con vật nào khác. Hơn nữa, trong những thế hệ tiếp nối, rất nhiều con bị chết, nhiều con bị xoăn cánh hoặc cánh cụt ngủn.

    Dưới con mắt vật lý, biến dị chính là một biểu hiện của Định luật Entropy (Định luật thứ hai của nhiệt động học) – định luật nói rằng vật chất biến đổi theo chiều hướng càng ngày càng xấu đi, hỗn loạn hơn. Entropy là đại lượng đo mức độ vô trật tự của một hệ thống. Định luật entropy khẳng định entropy chỉ tăng, không giảm (có thể không tăng trong giai đoạn ngắn). Biến dị là một biểu hiện của sự tăng entropy. Vậy biến dị là một biến đổi ngược chiều với tiến hóa, vì tiến hóa là khái niệm cho rằng sự vật ngày càng có tổ chức cao hơn, trật tự hơn. Vậy lý thuyết nói rằng biến dị dẫn tới tiến hóa là hoàn toàn sai lầm, phản tự nhiên.

    Tính chất tưởng tượng bịa đặt đó bị tố cáo mạnh mẽ trong cuốn “Evolution and the Emperor’s New Clothes” (Thuyết tiến hóa và bộ quần áo mới của hoàng đế) của N.J.Mitchell, do Roydon Publications xuất bản tại Anh năm 1983. Xin trích đoạn:

    “Các nhà khoa học, những người đang truyền bá rằng tiến hóa là một sự thật của cuộc sống, là những kẻ đánh lừa người khác bằng sự cả tin, và câu chuyện họ đang kể là trò lừa bịp hơn bao giờ hết. Trong khi giải thích sự tiến hóa, chúng ta mảy may không có một chút sự thật nào cả”.

    Trước trào lưu chống thuyết tiến hóa ngày càng mạnh, thái độ của các nhà tiến hóa ra sao? Hoặc là im lặng, bởi “im lặng là vàng”. Càng làm to chuyện, chân tướng thuyết tiến hóa càng lộ rõ. Đúng ra, những người chống thuyết tiến hóa mới đang là những người muốn làm to chuyện, muốn đưa thuyết tiến hóa ra tòa, như Phillip Johnson chẳng hạn. Thực sự các nhà tiến hóa đã và đang rơi vào tình thế rất lúng túng, như Richard Dawkins đã lúng túng trong cuốn video ở trên. Tuy nhiên, bản chất ngoan cố của con người là điều không làm ai ngạc nhiên. Các nhà tiến hóa vẫn loanh quanh chống chế. Họ kém trung thực so với ông thầy của họ, Charles Darwin.

    Thật vậy, dù sao thì Darwin vẫn hơn hẳn các đệ tử của ông vì thái độ trung thực. Nỗi lo lắng của ông về sự thiếu vắng bằng chứng hóa thạch là một ví dụ điển hình. Theo Adrian Desmond và James Moore kể lại trong cuốn “Darwin” (do W.W.Norton and Company xuất bản tại New York năm 1991, trang 456, 475) thì có lần Darwin tâm sự với Asa Gray rằng:
    “… Tôi hoàn toàn ý thức được rằng những phỏng đoán của tôi đã vượt quá giới hạn của khoa học thực sự… Nó chỉ là một mảnh vụn của một giả thuyết với nhiều sai lầm và lỗ hổng cũng như những phần đúng đắn” (…I am quite consciuos that my speculations run beyond the bounds of true science… It is a mere rag of an hypothesis with as many flaws & holes as sound parts).

    Thú thực, tôi kính trọng Darwin hơn chính vì lời thú nhận nói trên, thay vì ở lý thuyết của ông. Nhưng càng kính trọng sự trung thực của ông bao nhiêu, tôi càng thất vọng với sự ngoan cố của các đệ tử của ông bấy nhiêu. Họ cố tình che đậy những lời thú nhận của Darwin bấy lâu nay. Nhưng internet đã làm họ thất bại! Sự thật đang ngày càng lộ ra, và lời tiên báo của Soren Lovtrup sẽ trở thành sự thât: “một ngày nào đó, học thuyết Darwin sẽ được xếp hạng như trò lừa gạt vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học”.

    Vậy mà Charles Darwin từng được nhiều sách báo và trang mạng tôn vinh như một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại (!!!). Chẳng hạn, Darwin được coi là một trong 12 người khổng lồ trong cuốn “On Giants’ Shoulders” (Trên vai những người khổng lồ) của Melvyn Bragg. Trên trang mạng Biography Online, Darwin được tôn vinh như một trong 10 nhà khoa học vĩ đại nhất, vì “đã phát triển lý thuyết tiến hóa bất chấp sự không tin tưởng và nghi ngờ, và đã sưu tập được những bằng chứng trong 20 năm, và công bố các kết luận trong cuốn On the Origin of Species năm 1859”. Thật lố bịch hết chỗ nói. Tôi không tìm được một trường hợp thứ hai nào trong lịch sử khoa học lố bịch như trường hợp này.

    Nhưng dù gia công đánh bóng tên tuổi Darwin bằng cách nào đi chăng nữa, hai tác phẩm chủ yếu của Darwin, “Về nguồn gốc các loài” (1859) và “Nguồn gốc loài người” (1871) chính là 2 bằng chứng sẽ chôn vùi thanh danh của Darwin, và đến một ngày không xa, có thể tính bằng số năm tháng, học thuyết Darwin sẽ được xếp hạng như sự lừa gạt vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học. Sự thật sẽ không thể che đậy được mãi!

    Nguồn: Pham Viet Hung’s blog


    Đọc thêm:

    Mendel bác bỏ học thuyết Darwin

    Mendel refuted Darwinism (1)

    Abstract: When I was a student at high school, like any other one, I believed in Darwinism. We were still too naïve to know the truth. My generation was not lucky to be taught genetics. We knew nothing about Mendel. My teacher of biology said genetics was a “reactionist” theory (!). Many years later, I knew that it was a lie. When I comprehended what genetics was, I recognized Darwinism was just a lie, too. Now is the time to say the truth: how Mendel disproved Darwin’s theory of evolution. 
    Tóm tắt: Khi còn là một học sinh trung học, như bất kỳ một học trò nào khác, tôi tin vào học thuyết Darwin. Chúng tôi còn quá ngây thơ để biết sự thật. Thế hệ tôi không may không được học di truyền học. Chúng tôi không biết gì về Mendel. Thầy dạy sinh vật của tôi nói di truyền học là một lý thuyết phản động (!). Nhiều năm sau, tôi biết đó là nói dối. Khi tôi hiểu di truyền học là gì, tôi nhận ra học thuyết Darwin cũng chỉ là một lời nói láo. Nay là lúc nói sự thật: Mendel bác bỏ thuyết tiến hóa của Darwin như thế nào.

    CHÚ Ý: Toàn bộ các bài viết về SINH HÓA (bao gồm Thuyết Tiến hóa) trên trang PVHg’s Home (viethungpham.com) đã được sắp xếp đày đủ theo thứ tự thời gian tại địa chỉ sau đây:

    Một cái nhìn tổng thể lướt qua Mendel và Darwin

    Thật “may mắn” cho Darwin vì rốt cuộc ông đã không phải trực diện đối mặt với một nhà khoa học lỗi lạc cùng thời, đó là Gregor Johann Mendel (1822 – 1884), một tu sĩ công giáo người Áo, cha đẻ của Di truyền học. Nếu phải trực tiếp đối diện với Mendel, không biết Darwin sẽ làm thế nào để chống đỡ trước sự tấn công của lý thuyết di truyền do Mendel nêu lên, vì lý thuyết này đã chứng minh một cách không thể chối cãi được rằng cái gọi là ‘transformism’ – sự biến đổi loài này thành loài khác – của thuyết tiến hóa chỉ là một câu chuyện hoang đường không bao giờ xẩy ra.

    Thật vậy, theo lý thuyết di truyền của Mendel, khỉ chỉ có thể đẻ ra khỉ, cá chỉ có thể đẻ ra cá,… không bao giờ khỉ biến thành người được. Không có cái gọi là biến đổi từ từ trong một thời gian dài để một loài này biến thành loài khác. Đó là sự tưởng tượng vô căn cứ của học thuyết Darwin. Từ khi cuốn Về Nguồn gốc các Loài của Darwin ra đời (1859) đến nay đã là 156 năm, thuyết tiến hóa vẫn không có bất cứ một bằng chứng nào để chứng minh cho sự biến đổi từ từ đó.

    Chẳng hạn, không có bất cứ một hóa thạch nào để chứng minh cho sự tồn tại của một loài nằm giữa loài người và loài khỉ, mà thuyết tiến hóa bảo đó là tổ tiên của loài người. Sự vắng bóng tuyệt đối của các hóa thạch xác nhận tính đúng đắn của lý thuyết di truyền của Mendel, rằng đặc điểm của loài được bảo tồn trong quá trình di truyền, và do đó một loài không thể biến thành loài khác. Có nghĩa là về bản chất, lý thuyết di truyền của Mendel chống đối thuyết tiến hóa của Darwin.

    Nhưng chẳng lẽ Darwin sống cùng thời với Mendel mà không hay biết gì về Mendel?

    Câu trả lời là KHÔNG! Điều này đã được xác nhận trong một bài báo nhan đề “Gregor Mendel” của David Coppedge, một nhà khoa học của NASA từng làm quản lý hệ thống trong chương trình Cassini Mission to Saturn (Sứ mạng Cassini tới Sao Thổ). Trong bài báo đó, Coppedge viết: “… các nhà lịch sử biết chắc chắn Darwin không biết gì về Mendel, mặc dù Mendel biết về Darwin” [1]

    Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì thực ra không riêng Darwin, mà nhân loại thế kỷ 19 nói chung không hay biết gì về Mendel, mặc dù công trình của Mendel chính thức được công bố từ năm 1866, tức 7 năm sau khi Darwin công bố cuốn Về Nguồn gốc các Loài. Thực tế là công trình của Mendel đã bị chìm trong quên lãng, không được người đời biết đến trong một khoảng thời gian dài, ít nhất từ khi nó được công bố đến khi nó được tái khám phá vào năm 1900, tức là 34 năm nằm trong bóng tối! Darwin mất năm 1882, tức là 18 năm trước khi công trình của Mendel được dư luận rộng rãi biết đến.

    Ngược lại, Mendel biết rõ thuyết tiến hóa của Darwin, và ông coi những định luật di truyền do ông khám phá sẽ đặt ra một thách thức nghiêm trọng đối với lý thuyết ‘transformism’ của Darwin – lý thuyết về sự biến đổi loài này thành loài khác (tư tưởng cốt lõi của thuyết tiến hóa).

    Tuy nhiên, thế kỷ 19 chưa phải thời của Mendel. Thậm chí cho tới nửa đầu thế kỷ 20, thuyết tiến hóa của Darwin vẫn được coi là thuyết chính thống trong sinh học, được tiếp nhận hồ hởi như một thứ “khoa học nền móng” của trào lưu vô thần, mà đỉnh cao là vụ án Scopes [2] ở Mỹ và chủ nghĩa quốc xã ở Đức cùng với những thứ “dị bản” khác nhau của chủ nghĩa đấu tranh sinh tồn trên khắp thế giới.

    Tuy nhiên, kể từ khi lý thuyết di truyền của Mendel được biết đến và được phổ biến ngày càng rộng rãi hơn trong thế kỷ 20 thì mối đe dọa đối với thuyết tiến hóa cũng ngày càng lớn hơn. Người cảm nhận nguy cơ này rõ ràng hơn ai hết chính là những môn đệ của chủ nghĩa Darwin. Họ nhanh chóng nhận ra sự cần thiết phải lắp ghép học thuyết di truyền của Mendel vào thuyết tiến hóa. Đó là lý do để chủ nghĩa Tân-Darwin (neo-Darwinism) ra đời mà chúng ta sẽ bàn đến ở phần dưới trong bài này. Nhưng ngay bây giờ cần phải biết mọt sự thật là các nhà tiến hóa học đã phải tìm cách chống đỡ lý thuyết di truyền của Mendel. Hãy nghe David Coppedge (đã dẫn) nói về điều này:

    Như chúng ta sẽ thấy, ngót 72 năm đã trôi qua trước khi người ta không thể không biết đến những khám phá của Mendel nữa. Trong những năm 1930, sau chiến thắng trong vụ án Scopes, học thuyết Darwin bùng nổ ở mức không thể ngăn chặn được nữa. Từ đó hình thành một xu thế trộn lẫn thuyết di truyền của Mendel vào trong thuyết tiến hóa. Trong đó những đồ đệ của chủ nghĩa Tân-Darwin có xu hướng nhận vơ Mendel như người thuộc trường phái của mình, nhưng những bằng chứng cho thấy vị tu sĩ công giáo này chẳng có chút quan hệ dây mơ rễ má nào với học thuyết tiến hóa cả”.

    Đúng như vậy, Gregor Mendel là một tu sĩ công giáo tin vào thuyết sáng tạo, làm sao có thể chấp nhận thuyết tiến hóa? Nhưng Mendel không chống lại học thuyết Darwin bằng tôn giáo và triết lý, mà bằng chính công trình nghiên cứu khoa học của ông – những định luật về di truyền.

    Muốn hiểu lý thuyết di truyền của Mendel chống lại thuyết tiến hóa ra sao, phải tìm hiểu khái niệm di truyền.

    Từ xa xưa, thông qua những quan sát thông thường như con cái giống cha mẹ, cháu chắt giống ông bà, mọi người đều tin có di truyền. Nhưng mãi cho tới giữa thế kỷ 19 vẫn không ai biết cơ chế di truyền tác động ra sao và diễn ra như thế nào. Đa số mọi người cho rằng yếu tố di truyền nằm trong máu, và sự pha trộn các dòng máu sẽ chuyển giao các yếu tố di truyền của cha và mẹ cho con cái. Quan niệm ấy còn quá thô sơ và cách xa sự thật. Phải đợi tới khám phá của Mendel, cơ chế di truyền mới được sáng tỏ. Nhưng như chúng ta đã thấy, Darwin không hay biết gì về công trình của Mendel, do đó ông đã phạm sai lầm lớn khi áp dụng một quan niệm sai lầm về di truyền của Jean Baptiste Lamarck vào thuyết tiến hóa.

    Tư tưởng về di truyền của Darwin trong thuyết tiến hóa

    Mendel refuted Darwinism (2)Theo trang mạng Darwinsim Refuted (Học thuyết Darwin bị bác bỏ) [3] , vấn đề di truyền đặt ra một tình thế bối rối cho thuyết tiến hóa của Darwin. Khi Darwin đang xây dựng lý thuyết của mình, vấn đề làm thế nào mà sinh vật truyền được các đặc tính của chúng cho các thế hệ tiếp theo, tức là làm thế nào mà sự di truyền xẩy ra, vẫn là một câu hỏi chưa được giải đáp. Niềm tin ngây thơ cho rằng sự di truyền được truyền qua máu vẫn được chấp nhận một cách phổ biến. Niềm tin mập mờ ấy dẫn Darwin tới chỗ đặt lý thuyết của mình trên một nền tảng sai lầm.

    Để thấy rõ sai lầm đó, trước hết phải biết rằng thuyết tiến hóa của Darwin dựa trên cơ chế “chọn lọc tự nhiên” (natural selection). Chọn lọc tự nhiên là sự chọn lọc những “đặc tính có lợi” (useful traits) để di truyền lại cho các thế hệ sau. Tuy nhiên vấn đề vẫn chưa được trả lời: Làm thế nào để “những đặc tính có lợi” được chọn lọc và chuyển tiếp từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo?

    Tại đây, Darwin đã ôm lấy lý thuyết của Lamarck, đó là lý thuyết về “sự di truyền những đặc tính mới giành được” (the inheritance of acquired traits).

    Những đặc tính mới giành được không phải là những đặc tính bẩm sinh, mà là những đặc tính giành được sau khi ra đời, trong quá trình sống và thích nghi với môi trường, và có thể di truyền lại cho các thế hệ tiếp nối. Darwin rất thích thú với khái niệm này, và ông đưa ra quan điểm cho rằng “đặc tính có lợi” là một loại đặc tính mới giành được. Có nghĩa là Darwin đã sử dụng quan niệm về di truyền của Lamarck để giải thích quy luật chọn lọc tự nhiên, và từ chọn lọc tự nhiên giải thích sự tiến hóa!

    Trong cuốn “Bí mật lớn về tiến hóa” (The Great Evolution Mystery), tác giả Gordon Taylor cho chúng ta thấy rõ Darwin đã chịu ảnh hưởng bởi Lamarck như thế nào:

    Học thuyết Lamarck được xem như học thuyết về sự di truyền các đặc tính mới giành được… Darwin có khuynh hướng tin rằng sự di truyền như thế đã xẩy ra và có trường hợp ông được nghe báo cáo rằng một người bị mất các ngón tay sinh ra những đứa con không có ngón tay… Năm 1868, khi ông công bố cuốn Varieties of Animals and Plants under Domestication (Tính đa dạng của động vật và cây trồng dưới sự thuần hóa), ông đã cho một loạt thí dụ về sự di truyền theo lý thuyết của Lamarck: một người mất một phần ngón tay út và tất cả con trai của người đó sinh ra với những ngón tay biến dạng; những bé trai sinh ra với bao quy đầu có độ dài giảm thiểu là kết quả của nhiều thế hệ được cắt bao quy đầu…”

    Nhưng dưới ánh sáng của Di truyền học Mendel, giả thuyết của Lamarck đã bị phủ nhận. Các định luật di truyền của Mendel chứng tỏ rằng các đặc tính mới giành được không chuyển giao cho các thế hệ nối tiếp, vì chúng không hề làm thay đổi các gene. Sự di truyền, theo lý thuyết của Mendel, xẩy ra theo những định luật bất biến xác định. Bất kể những con bò mà Darwin nhìn thấy ở khắp nơi sinh sản thế nào, bản thân loài bò không bao giờ thay đổi: bò luôn luôn vẫn là bò. Các định luật di truyền của Mendel đã hủy hoại thuyết tiến hóa!

    Năm 1866 Gregor Mendel công bố các định luật di truyền do ông khám phá. Nhưng mãi tới cuối thế kỷ 19 công trình này mới bắt đầu thu hút sự chú ý của thế giới khoa học. Đầu thế kỷ 20, chân lý của các định luật này mới được chấp nhận bởi toàn thể cộng đồng khoa học. Đây là một đòn chết người đánh vào lý thuyết của Darwin – một lý thuyết sử dụng khái niệm “di truyền những đặc tính có lợi” dựa trên lý thuyết sai lầm của Lamarck.

    Nhiều sách báo nhắc tới một sự thật là lý thuyết của Mendel chống lại mô hình của Lamarck, nhưng tảng lờ sự thật là lý thuyết Mendel chống lại cả Darwin, vì Darwin tiếp thu mô hình của Lamark để giải thích sự di truyền những đặc tính có lợi trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Vậy hãy trả lại sự thật cho khoa học: Lý thuyết Di truyền của Mendel chống lại cả Lamark lẫn Darwin, như bài báo “Mendel’s Opposition to Evolution and to Darwin” (Sự chống đối của Mendel đối với thuyết tiến hóa và Darwin) trên Tạp chí Di truyền (Journal of Heredity) đã nói rất rõ: “Ông ấy (Mendel) đã quen thuộc với cuốn Về Nguồn gốc các loài của Darwin … và ông chống lại lý thuyết của Darwin…”

    Tóm lại, các định luật do Mendel khám phá đã đặt học thuyết Darwin vào trong một tình thế vô cùng khó khăn. Vì thế, trong phần tư đầu tiên của thế kỷ 20, các nhà khoa học ủng hộ học thuyết Darwin đã tìm cách cứu học thuyết này bằng việc xây dựng một mô hình tiến hóa mới: “chủ nghĩa Tân-Darwin” ra đời. Nhưng trước khi tìm hiểu về Tân-Darwin, hãy tìm hiểu các định luật di truyền của Mendel.

    Ba Định luật Di truyền do Mendel khám phá

    Tận tụy làm việc trong một khu vườn của Tu viện Thánh Thomas ở Brunn, nước Áo, Gregor Mendel đã thực hiện những thí nghiệm kéo dài trong nhiều năm, với những kỹ thuật khéo léo dựa trên một phương pháp khoa học chính xác và thuyết phục.

    Nếu đánh giá tính khoa học của một công trình nghiên cứu theo tiêu chuẩn của Pasteur, rằng “Đừng đưa ra bất kỳ điều gì mà anh không thể chứng minh bằng thực nghiệm”, thì sẽ thấy Darwin và Mendel là hai phương pháp đối lập – trong khi học thuyết của Darwin chứa toàn những mô tả chủ quan mang tính phỏng đoán, tuyệt đối không có một thí nghiệm nào để kiểm chứng, thì lý thuyết của Mendel dựa trên những thí nghiệm đạt tới độ chính xác như vật lý và toán học, có thể kiểm chứng bất kỳ lúc nào, và cho phép tiên đoán chính xác những sự kiện sẽ xẩy ra trong tương lai dựa trên những nguyên lý đã tổng kết.

    Thật vậy, công trình của Mendel thường được ví như một kiểu mẫu giáo khoa về phương pháp thực nghiệm, đòi hỏi sự kiên trì, sự chú tâm tới các chi tiết, sự ghi chép cẩn thận, và một cái nhìn sâu thẳm vào bản chất của vấn đề. Trong một dự án kéo dài 10 năm, Mendel đã lai tạo 28.000 cây đậu Pisum, quan sát tính di truyền của 7 đặc điểm được lựa chọn:

    – bề mặt của hạt (nhăn hoặc mịn)
    – mầu của nội nhũ (vàng, da cam hoặc xanh lá cây)
    – mầu vỏ hạt (xanh lá cây hoặc vàng)
    – hình dạng vỏ đậu (phồng hoặc dẹt)
    – mầu vỏ đậu (vàng hoặc xanh lá cây)
    – vị thế của hoa (trên trục hoặc ở cuối)
    – độ dài cuống (từ 6 feet trở lên hoặc từ 1 foot trở xuống)

    Ông chọn cây đậu để nghiên cứu vì cây đậu là loài cây có mùa ngắn (có thể tiến hành thí nghiệm nhiều lần), dễ thụ phấn, có những đặc điểm rõ ràng dễ nhận thấy và có thể che chắn để khỏi bị thụ phấn lai tạp một cách tùy tiện. Ông dành 2 năm đầu tiên để tạo ra những cây đậu thuần chủng đúng loại, rồi dành 8 năm tiếp theo để thụ phấn lai tạo theo dự án và xác định chính xác số lượng các đặc điểm xuất hiện ở các đời con cháu. Khó có thể tưởng tượng được một người âm thầm làm việc một mình trong vòng 10 năm như thế để theo đuổi mục tiêu khám phá sự thật về di truyền. Cuối cùng, vị tu sĩ công giáo trước đó không ai biết đến đã tìm ra những nguyên lý vĩ đại của sự sống, cho phép tiến hành những dự đoán có thể kiểm chứng được, và đặc biệt, có thể trình bầy chúng dưới dạng toán học. Đây là lần đầu tiên toán học bước chân vào sinh vật học, và trở thành công cụ giúp sinh vật học đi tới những nguyên lý chính xác, tương tự như vật lý.

    Với trực giác thiên tài, vào thời điểm giữa thế kỷ 19 khi con người chưa biết gì về nhiễm sắc thể và những chi tiết trong việc phân chia tế nào, Mendel đã khám phá ra 3 định luật cơ bản của di truyền học:

    Định luật về cặp yếu tố (gene) (Law of Paired Factors (Genes)): Mỗi đặc điểm của sinh vật được quyết định bởi một cặp gene tương ứng. Mỗi cha/mẹ đóng góp chỉ một gene trong cặp gene đó. Mỗi đặc điểm, chẳng hạn mầu vỏ hạt, được đóng góp bởi cả cha lẫn mẹ, nghĩa là, không chỉ một giới xác định mầu của vỏ hạt; trứng và tinh trùng cùng đóng góp một nửa của một đặc điểm cho trước.

    Định luật về tính trội (Law of Dominance): Trong một cặp gene, một gene sẽ trội hơn gene kia và sẽ kiểm soát sư biểu lộ ra bên ngoài. Đó là tính trội của gene và gene đóng vai trò trội được gọi là gene trội. Mendel phát minh ra các thuật ngữ trội và lặn để giải thích định luật về tính trội. Thí dụ: tính mịn trội hơn tính nhăn; nếu một thế hệ con cháu có cặp gene trong đó một gene xác định tính mịn, một gene xác định tính nhăn, thì con của nó sẽ biểu lộ tính mịn.

    Định luật về tính độc lập (Law of Segregation): Các đặc điểm được di truyền một cách độc lập. Một hạt có thể nhăn và vàng, hoặc nhăn và xanh, hoặc mịn và vàng, hoặc mịn và xanh. Các đặc điểm được chọn một cách độc lập và ngẫu nhiên cho các thế hệ con cháu, nhưng có đủ các phép thử để chúng tuân thủ các quy luật toán học.

    Mendel refuted Darwinism (6)Để toán học hóa các định luật này, Mendel dùng chữ cái lớn để biểu thị nét trội, chữ cái nhỏ để biểu thị nét lặn. Chẳng hạn với 7 đặc điểm như Mendel nghiên cứu, có thể dùng các chữ cái sau đây để biểu thị A, B, C, D, E, F, G, a, b, c, d, e, f, g. Mỗi cá thể có thể nhận được các đặc điểm như Aa, Bc, dF, ef, … Mỗi đặc điểm di truyền là một tổ hợp chập hai của các chữ nói trên thậm chí còn hơn thế nữa, vì còn có các cặp dạng AA, bb,… Nghĩa là có thể tính được khả năng một đặc điểm cụ thể nào đó sẽ được di truyền như thế nào ở thế hệ thứ mấy. Tóm lại, Mendel đã mở cửa cho khoa học chính xác bước chân vào một lĩnh vực từ xưa đến nay chỉ là khoa học định tính, mở đường cho di truyền học phát triển chưa từng thấy trong thế kỷ 20.

    Thông qua 3 định luật nói trên, một sự thật tự nó tỏ lộ ra rằng các đặc điểm của sinh vật KHÔNG THAY ĐỔI trong quá trình di truyền – các loài được bảo toàn, không có sự thay đổi di truyền để loài này biến thành loài khác. Điều đó đặt dấu chấm hết cho những suy đoán của Darwin và những đệ tử của ông về khả năng pha trộn biến đổi di truyền làm biến đổi loài.

    Công trình của Mendel mang một cái tên rất giản dị khiêm tốn “Những thí nghiệm lai giống cây trồng” (Experiments in Plant Hybridization), hoàn thành năm 1865 và công bố năm 1866 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong nhận thức về sự sống.

    Nhưng một công trình vĩ đại như thế đã bị lãng quên trong 34 năm. Tại sao?

    Tại sao công trình của Mendel bị lãng quên?

    Một số tài liệu nói rằng vì nó được công bố trên một tài liệu ít tiếng tăm của Áo, nhưng đó chỉ là một cách né tránh sự thật. Sự thật là nhiều người có thể đã đọc công trình của ông nhưng không hiểu và không đánh giá được ý nghĩa quan trọng của nó. Nhưng mặt khác, và điều này đáng nói hơn, vì công trình của Mendel có nội dung trái với quan điểm di truyền của thuyết tiến hóa, một lý thuyết đang đóng vai trò chính thống, nên không được các nhà sinh học tin vào thuyết tiến hóa ủng hộ. Điều này đã được xác nhận trong bài báo Mendel’s Opposition to Evolution and to Darwin (Sự chống đối của Mendel đối với thuyết tiến hóa và Darwin) trên tạp chí The Journal of Heredity, trong đó viết: “Công trình của Mendel đầu tiên bị từ chối, vì hiển nhiên là ông đã tạo ra một lý thuyết chống lại lý thuyết di truyền của Darwin (pangenesis), lý thuyết này lúc ấy đã trở nên phổ biến và được chấp nhận như một lý thuyết chịu trách nhiệm về di truyền”. [4]

    Mendel refuted Darwinism (3)Thực ra Mendel không chỉ công bố công trình của mình trên tạp chí chuyên môn, mà còn gửi bản sao đến các nhà khoa học có uy tín trong thời của ông. Chẳng hạn, năm 1867, ông đã gửi công trình đến ngài Carl Nageli, người được tạp chí Great Experiments in Biology (Những thí nghiệm vĩ đại trong Sinh học) ca ngợi là “một nhà thực vật học nổi tiếng và một người có thẩm quyền về tiến hóa luận”, trong đó Mendel viết: “Tôi không bao giờ quan sát thấy những sự chuyển tiếp quá độ từ từ tứng tí một các đặc điểm của cha mẹ cho con cái”. Có nghĩa là ông bác bỏ thuyết tiến hóa – thuyết cho rằng loài này có thể biến thành loài khác thông qua những biến đổi từng tí một trong một thời gian đủ dài. Trong phần kết công trình của mình, Mendel còn nhắc đến một công trình của một người đi trước ông là Gartner. Ông viết:

    Kết quả của những thí nghiệm nghiên cứu khả năng một loài có thể biến thành loài khác đã dẫn Gartner đi tới chỗ chống đối lại ý kiến của các nhà tự nhiên học vốn không tin vào sự ổn định của các loài cây trồng mà tin vào sự tiến hóa liên tục của thực vật. Ông đã đưa ra một chứng minh không thể nghi ngờ rằng các loài là cố định…”.

    Nói một cách dễ hiểu: ban đầu Gartner cũng muốn tiến hành thí nghiệm để kiểm chứng quan điểm của thuyết tiến hóa cho rằng một loài có thể biến thành loài khác. Nhưng những thí nghiệm đó lại dẫn Gartner tới kết quà hoàn toàn ngược lại, rằng các loài giữ nguyên các đặc điểm giống loài của nó, và không thể biến thành loài khác.

    Mendel refuted Darwinism (7)Mendel kết luận: “những cây lai tạo giữa những loài này không mất đi một chút nào về sự ổn định của chúng sau 4 – 5 thế hệ”.

    Xin nhắc lại rằng công trình của Mendel ra đời sau cuốn Về Nguồn gốc các Loài của Darwin 7 năm. Vậy kết luận nói trên của Mendel là một lời nhắn nhủ rõ ràng gửi tới các nhà tiến hóa luận rằng hãy xem xét lại quan điểm về sự biến đổi các đặc điểm di truyền để một loài này có thể biến thành loài khác. David Coppedge viết về điều này như sau:
    Khi học thuyết Darwin chiếm lĩnh thế giới trí thức ở Anh và lan tràn sang lục địa Âu Châu, kết luận nói trên của Mendel dường như một tiếng kèn kêu gọi hãy thức tỉnh để quan sát những suy đoán của thuyết tiến hóa về sự biến đổi loài này thành loài khác. Ông dường như đang hét lên, theo cách lịch sự của ông, rằng “các loài không biến đổi thành loài khác! Chúng thể hiện sự ổn định từ thế hệ này sang thế hệ khác, và các thí nghiệm của tôi đã chứng tỏ sự thật đó. Có ai nghe không?””.  Rồi Coppedge trả lời: “Không ai nghe cả. Họ đang say sưa với thứ rượu ngọt của cơ chế tự nhiên đối với cái gọi là ‘transformism’ – sự biến đổi loài này thành loài khác – làm sao họ thấy được ích lợi gì từ những sự thật khó chịu mà vị tu sĩ ở Áo công bố?”.

    Cơn say ấy làm cho các nhà khoa học đi theo Darwin quên phắt tiêu chuẩn cơ bản của khoa học là bằng chứng thực tế hoặc thực nghiệm. Không có thực tế và thực nghiệm để chứng minh, thuyết tiến hóa thực chất chỉ là những thảo luận ngụy khoa học. Vì thế Coppedge không coi các nhà khoa học tiến hóa là nhà khoa học, mà chỉ là những người kể chuyện (storytellers). Ông viết: “Mendel thuộc trường phải kinh điển của các nhà khoa học tin vào phương pháp thực nghiệm. Nhưng bây giờ, những người kể chuyện của thuyết tiến hóa tự do suy đoán bừa bãi về quá khứ và tương lai không thể quan sát được rồi gọi đó là khoa học”.

    Quả thật, thuyết tiến hóa là một chuyện thần tiên kể chuyện con vật này biến thành con vật khác, và tệ hại nhất là chuyện con khỉ biến thành con người. Chuyện bịa đặt đó được tin là chuyện thật, dẫn tới những đối xử tàn bạo, ngược đãi, thảm sát người thổ dân ở Úc và ở nhiều nơi khác trên thế giới chỉ vì họ bị coi là những sinh vật nửa người nửa khỉ [5].

    Khi người khổng lồ thức dậy

    Nhưng sự thật không thể bị che khuất mãi. “Năm 1900, người khổng lồ đang ngủ thức dậy”. Đó một tiêu đề trên trang mạng Famous Scientists (Các nhà khoa học nổi tiếng), mô tả sự kiện tái khám phá ra Di truyền học của Mendel. Quả thật là lý thuyết khổng lồ của Mendel đã bị chìm trong giấc ngủ của nhân loại 34 năm, nay mới thức dậy. Gần như đồng thời, 3 nhà khoa học là Hugo De Vries, Carl Correns và Erich von Tschermak cùng khám phá ra rằng 34 năm trước, Gregor Mendel đã tìm ra những nguyên lý di truyền vô cùng quan trọng. Hugo De Vries có ấn tượng rất mạnh với những khám phá đó, và lập tức trao đổi sự thật mình vừa phát hiện với các nhà sinh học quan trọng khác. Ông cũng nhanh chóng nhận ra rằng lý thuyết di truyền này đặt ra một thách thức đối với lý thuyết của Darwin về chọn lọc tự nhiên.

    Thật vậy, chọn lọc tự nhiên nói rằng sinh vật, trong quá trình thích nghi với môi trường, sẽ có những biến đổi về thể chất, và những biến đổi này sẽ được di truyền lại cho các thế hệ tiếp nối. Quá trình này tích lũy dần dần, đến một lúc nào đó biến đổi này trở thành đủ lớn để làm cho sinh vật đó biến thành một loài khác.

    Nhưng lý thuyết di truyền của Mendel không cung cấp bất cứ một sự biến đổi nào như thế để làm chỗ dựa cho lý thuyết chọn lọc tự nhiên. Nói cách khác, những biến đổi của sinh vật để thích nghi với môi trường không hề làm thay đổi các đặc điểm di truyền, và do đó không tạo ra loài mới. Hugo de Vries đã tổng kết nhận định này bằng một tuyên bố bất hủ:

    Hugo de VriesSự chọn lọc tự nhiên có thể giải thích sự sống sót của con vật thích nghi tốt nhất, chứ không phải sự xuất hiện một loài mới từ con vật thích nghi tốt nhất” (Natural selection can explain the survival of the fittest, but not the arrival of the fittest). Tuyên bố này có thể coi như tấm màn khép lại tấn tuồng “chọn lọc tự nhiên là cơ sở của tiến hóa.”

    Tóm lại, việc tái khám phá ra lý thuyết di truyền của Mendel đẩy thuyết tiến hóa trong những năm đầu của thế kỷ 20 vào tình trạng khó ăn khó nói, sống dở chết dở. Các nhà khoa học tiến hóa lúng túng không biết đối xử với lý thuyết Mendel thế nào. Không thể bác bỏ nó được, vì chứng minh của nó quá minh bạch, rõ ràng, thuyết phục. Hugo de Vries và nhiều nhà khoa học khác đã làm những thí nghiệm tương tự để kiểm chứng các định luật của Mendel và đi tới kết luận rằng các định luật đó hoàn toàn chính xác, không thể phủ nhận được. Vì thế chỉ còn một lựa chọn duy nhất cho các nhà tiến hóa luận: trộn lẫn lý thuyết của Mendel và Darwin với nhau. Đó là lý do ra đời cái gọi là “thuyết tiến hóa tổng hợp” (synthetic theory of evolution), hoặc “chủ nghĩa Tân-Darwin” (neo-Darwinism).

    Chủ nghĩa Tân-Darwin và sự đánh giá của toán học

    Lý thuyết Tân-Darwin dựa trên sự di truyền những biến dị ngẫu nhiên (random mutations), có thể tóm tắt như sau:
    Trong quá trình sống, hệ di truyền của sinh vật có thể xuất hiện những biến dị ngẫu nhiên có lợi cho việc thích nghi với môi trường, và những biến dị có lợi này sẽ được di truyền lại cho các thế hệ nối tiếp. Qua hàng triệu, hàng tỷ năm, những biến dị này có thể tích phân lại thành một biến đổi lớn làm thay đổi loài.

    Tư tưởng đó thổi một sức sống mới vào thuyết tiến hóa, làm thỏa mãn các nhà sinh học tiến hóa đến nỗi trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày ra đời cuốn Về Nguồn gốc các Loài của Darwin, nhà tiến hóa luận Julian Huxley đã tuyên bố dõng dạc đầy tự tin rằng thuyết tiến hóa của Darwin đã đạt tới một sự thật không thể tranh cãi được, và rằng toàn bộ vũ trụ được mô tả trong một quá trình duy nhất và liên tục của tiến hóa luận.

    Nhưng trạng thái phớn phở lạc quan đó không kéo dài được bao lâu. Những thách thức toán học do Sir Peter Medawar và nhiều nhà toán học khác nêu lên đã phủ một bóng đen ngờ vực lên khả năng biến dị có thể tích lũy thành một biến đổi lớn làm thay đổi loài – xác suất để sự kiện đó xẩy ra gần như bằng 0, tức là không thể xẩy ra!

    Bài báo Mathematicians and Evolution (Các nhà toán học và thuyết tiến hóa) của Casey Luskin [6] trên trang mạng Evolution News ngày 11/07/2006 cho biết:

    Một trong những cuộc xâm nhập của toán học vào khoa học tiến hóa được biết đến nhiều nhất là Hội nghị chuyên đề Wistar 1966 ở Philadelphia, nơi các nhà toán học và các nhà khoa học khác trong những lĩnh vực liên quan đã họp lại để đánh giá xem liệu thuyết Tân-Darwin có thể thực hiện được hay không. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ toạ của Sir Peter Medawar, một nhà khoa học từng đoạt Giải Nobel. Sự nhất trí chung của nhiều người tham dự hội nghị là thuyết Tân-Darwin không thể bảo vệ được bằng toán học (The general consensus of many meeting participants was that Neo-Darwinism was simply not mathematically tenable). Biên bản của hội nghị mang tên Mathematical Challenges to the Neo-Darwinian Interpretation of Evolution (Những thách thức toán học đối với sự diễn giải của thuyết Tân-Darwin về tiến hóa) cho biết các nhà toán học đáng kính và các học giả tương tự trong hội nghị đã nêu lên nhiều thách thức khác nhau.

    Chẳng hạn, chủ tịch hội nghị, Sir Peter Medawar, tuyên bố lúc khai mạc: “Lý do trực tiếp của hội nghị này là một cảm giác bất mãn rất phổ biến đối với cái đã được xem như một lý thuyết tiến hóa được chấp nhận trong thế giới nói tiếng Anh, đó là cái được gọi là Lý thuyết Tân-Darwin… Có những phản đối được nêu lên bởi những nhà khoa học cảm thấy trong lý thuyết tiến hóa hiện nay có một số thứ đã mất tích… Những phản đối như thế đối với lý thuyết Tân-Darwin là rất phổ biến trong số các nhà sinh học nói chung; và chúng ta, tôi nghĩ, không vì ai cả phải làm cho sáng tỏ vấn đề. Chính sự kiện hôm nay chúng ta có mặt ở hội nghị này là bằng chứng cho thấy chúng ta chưa làm sáng tỏ vấn đề

    Stanislaw_Ulam.tif copyTrong tham luận mang tên “Làm thế nào để trình bầy các bài toán đánh giá sự tiến hóa bằng toán học”, nhà khoa học Stanislaw Ulam làm tan vỡ niềm hy vọng của thuyết Tân-Darwin bằng nhận định sau đây: “Dường như phải có hàng ngàn, hàng triệu biến dị có lợi để tạo ra một sinh vật phức tạp ở mức thấp nhất mà chúng ta thấy trong cuộc sống hiện nay. Bất kể là xác suất để một biến dị đơn lẻ lớn đến đâu, thậm chí bằng một phần hai, nhưng xác suất để xẩy ra một dãy các biến dị có lợi như thế nối tiếp nhau sẽ phải nâng lên lũy thừa một triệu, như thế bạn sẽ có một xác suất rất gần với zero, và một sự kiện như thế dường như không thể tồn tại trên thực tế”.

    Tóm lại, thuyết Tân-Darwin không có cơ sở khoa học. Nó không có bằng chứng thực tế, và không được toán học ủng hộ. Thậm chí toán học đã đưa ra những con số mang tính phủ định nó. Rốt cuộc, thuyết Tân-Darwin cũng chỉ là một giả thuyết phi hiện thực. Nó tiếp tục làm khoa học dựa trên các giả thuyết thuần túy không thể chứng minh được. Đó là truyền thống của chủ nghĩa Darwin!

    Trong thập kỷ 1980, bằng chứng về sự gián đoạn trong hồ sơ hóa thạch và trong các genes đã chia rẽ các môn đệ của Darwin thành 2 phái: phái “biến đổi từ từ từng tí một” (gradualist) và phái “biến đổi nhẩy cóc” (punctuationist). Đặc biệt Stephen Jay Gould và Niles Eldredge đã phải nổi đóa lên với phái đối lập để thuyết phục rằng đồ thị tiến hóa không phải là một hàm liên tục, mà là một hàm nhảy cóc đột xuất từng đợt một. Cuộc tranh cãi giữa 2 phái này kéo dài cho đến nay chưa chấm dứt. Có nghĩa là phái “gradualist” trung thành với thuyết tiến hóa nhưng bế tắc, còn phải “nhảy cóc” là phái tiến hóa phản bội lại tiên đề của thuyết tiến hóa!

    Cuối thế kỷ 20 nhân loại chứng kiến một cuộc bùng nổ tri thức về di truyền học. Người ta đã có thể chỉ rõ ra các gene cụ thể, trong mã di truyền của nó, và quan sát sự sắp xếp của các cặp gene tương ứng vào trong giao tử (tế bào sinh sản trưởng thành, như một tinh trùng hoặc một trứng, có thể kết hợp với một tế bào khác để tạo nên một cơ thể mới). Một hiểu biết mới đã trở nên rõ ràng: tế bào rất khó tính trong việc đảm bảo sao cho các gene được sao chép một cách chính xác và đóng góp không sai sót.

    Điều đó có nghĩa làhầu như không có cơ hội cho sự biến dị ngẫu nhiên có lợi.

    Trong một số trường hợp có thể có những chữ cái của DNA cá biệt biến đổi mà không gây ra sự hủy hoại – có một sự co dãn nhất định trong mã di truyền sao cho một biến đổi riêng lẻ không tạo nên sự thay đổi bất kỳ một chức năng hoạt động nào cả. Những biến dị đó gọi là biến dị trung tính (vô hại). Người ta cũng khám phá ra cơ chế đọc và sửa chữa rất kỹ lưỡng của DNA, chứng tỏ rằng tế bào có nhiều cách sửa chữa các biến dị. Vả lại, phần lớn biến dị có trong thực tế đều gây ra bệnh tật hoặc tử vong, trong khi cho đến hôm nay các nhà sinh học tiến hóa không thể chỉ ra một trường hợp nào rõ ràng chứng tỏ biến dị dẫn tới loài mới, hoặc thậm chí một biến dị có lợi nào để biện hộ cho lý thuyết chọn lọc tự nhiên.

    Rất nhiều ý đồ tạo ra biến dị đã được thực hiện, đặc biệt đối với ruồi dấm Drosophila, nhưng nói chung đề gây nên thiệt hại hoặc chết chóc cho loài này. Không hề có biến dị có lợi.

    Trải qua bao nhiêu nỗ lực, cho đến nay, những phỏng đoán của Darwin đang tiến tới bờ vực của sự sụp đổ, trong khi các định luật của Mendel tiếp tục đứng vững.

    Kết luận

    Lâu đài tiến hóa của Darwin xây trên nền móng là chọn lọc tự nhiên; nền móng ấy được nhào trộn bởi một thứ bê-tông mang nhãn hiệu “biến dị có lợi”. Phải có hàng triệu, hàng triệu biến dị có lợi nối tiếp nhau qua hàng triệu, hàng tỷ năm mới có hy vọng tạo ra những biến đổi lớn để xuất hiện một loài mới. Toán học chứng minh xác suất để xẩy ra một sự kiện như thế gần như bằng 0, tức là không thể xẩy ra. Vì thế lâu đài tiến hóa thực chất giống như một lâu đài trong truyện thần tiên, hoặc trong phim hoạt hình, chẳng hạn phim Alice in Wonderland.

    Mendel refuted Darwinism (4)Các nhà khoa học tiến hóa là những người kể chuyện giỏi, những họa sĩ tài ba, làm cho người xem cứ tưởng như thật. Cuốn phim vẫn đang tiếp tục được chiếu ở rạp, vẫn có nhiều người vào xem. Trẻ em thì bắt phải xem, và bắt phải tin lâu đài ấy là có thật. Nhưng vì nó là một cuốn phim, một truyện kể, nên rồi cũng sẽ đến hồi kết. Thực tế phim cũng đang đến những đoạn cuối nhạt nhẽo, nhàm chán. Nhiều khán giả đã thấy rõ đây là chuyện thần tiên bịa đặt. Nhiều người đã bỏ ra về.

    Nghĩ lại thời học sinh, tôi thấy mình thật ngây ngô. Thầy nói gì cũng tin. Thầy ca tụng thuyết tiến hóa. Thầy kết tội thuyết di truyền. Sau này, khi ngộ ra sự thật, tôi nghĩ đến thầy, và đặt câu hỏi: Tại sao thầy lại tin vào một lý thuyết sai trái và kết tội một lý thuyết đúng đắn? Trong một thời gian dài tôi không tìm được câu trả lời. Mãi đến khi có internet, thông tin bùng nổ, tôi mới tìm được câu trả lời: “Few are those who see with their own eyes and feel with their own hearts” (Ít người nhìn bằng đôi mắt của chính mình và cảm nhận bằng trái tim của chính mình). Đó là lời của Albert Einstein. Einstein quả thật là một nhà hiền triết thâm thúy.

    zVâng, đa số tin vào thuyết tiến hóa vì thầy của mình dạy như thế, giống như tôi vậy. Đa số coi nó là một “khoa học” vì quả thật nó là một “khoa học” đã được nhồi sọ cho mọi người từ thủa thiếu thời. Đa số tin vào nó vì nó vẫn đang có những danh hiệu kêu leng keng trong những viện nghiên cứu hoành tráng, vẫn có những giáo sư tiến sĩ giảng dạy nó, vẫn có những đại học danh tiếng tôn vinh nó.

    Vẫn có những đại bác học như Francis Collins, một trong hai đồng tác giả của công trình khám phá bản đồ gene người, biện hộ cho nó, cố níu kéo nó, cố gán ghép nó vào lý thuyết di truyền hiện đại… cố chứng minh bộ gene của người rất gần với bộ gene của khỉ, mà lờ đi một sự thật rằng bộ gene của người phần lớn cũng giống bộ gene của chuột, của giun đất,… Điều rất lạ là ông Collins rất tin Chúa, tin rằng Chúa là tác giả của thông tin cài đặt trong DNA, nhưng lại không đủ đức tin để tin rằng Chúa có thể sáng tạo ra mọi loài vật theo ý Chúa mà chẳng cần phải bịa ra bất cứ một thuyết tiến hóa nào cả. Tôi nghĩ ông Collins là một nhà khoa học thực sự có tài, công tâm, một tâm hồn trong sáng, nhưng ông chưa sử dụng hết cái trực giác vốn có ở ông để vượt thoát ra khỏi cái mớ bòng bong của thuyết tiến hóa đã cột chặt ông vào ghế học trò vài chục năm trước.

    Những người không nhìn bằng đôi mắt của mình, không cảm nhận bằng trái tim của mình sẽ không bao giờ có khả năng tiên đoán, như tiên đoán đã nói ở cuối mục trước, rằng học thuyết Darwin đã tới bờ vực sụp đổ, và nó sẽ sụp đổ!

    PVHg, Hanoi 28/08/2015

    Nguồn: Nghiên Cứu Quốc Tế

    ******

    CHÚ THÍCH:
    [1] http://www.creationsafaris.com/wgcs_4.htm David F.Coppedge
    [2] Vụ án Scopes là vụ án xẩy ra tại tiểu bang Tennessee, Mỹ, năm 1925: giáo viên trung học John Scopes đã vi phạm đạo luật Butler của tiểu bang. Luật này cấm dạy môn học về tiến hóa của con người theo thuyết Darwin tại các trường công. Scopes đã bất chấp luật, đem môn học đó dạy cho học sinh. Scopes bị kết tội, nhưng luật sư bào chữa cho Scopes thắng kiện. Đó là thắng lợi của học thuyết Darwin tại nhà trường, nhưng là thắng lợi chính trị, thay vì khoa học.
    [3] http://www.darwinismrefuted.com/short_history_03.html
    [4] Bishop, B. E. 1996. Mendel’s Opposition to Evolution and to Darwin. The Journal of Heredity. 87 (3): 205-213. Pangenesis là một lý thuyết di truyền do Darwin xây dựng nên, dựa theo giả thuyết sai lầm của Jean Baptiste Lamark. Thuyết này đã bị chứng minh là sai lầm và đã bị loại bỏ. Đáng tiếc là người ta chỉ phê phán Lamark mà không phê phán Darwin.
    [5] Xem bài “Missing Links – Những mắt xíc bị mất tích” của Phạm Việt Hưng trên PVHg’s Home ngày 05/08/2015
    [6] http://www.evolutionnews.org/2006/07/mathematicians_and_evolution002387.html

    ________________

    Đọc thêm:

    Evolution: A Farce,… / Thuyết tiến hóa: Một trò hề,…

    don-boys

    “Evolution Is A Farce, A Fraud, A Fake And A Faith!”, that is the title of an article by Dr Don Boys, published on the website ctsnews.com. PVHg’s Home would like to introduce it in the following Vietnamse translation. Please enjoy…

    “Thuyết tiến hóa là một trò hề, một sự lừa đảo, một sự giả mạo, và một đức tin!”. Đó là tiêu đề một bài báo của TS Don Boys, công bố trên trang web ctsnews.com. PVHg’s Home xin giới thiệu bài báo đó trong bản dịch tiếng Việt sau đây. Xin mời thưởng thức…

    LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH

    Trong những bài báo phê phán thuyết tiến hóa Darwin công bố trên PVHg’s Home, tôi từng nhận định thuyết tiến hóa là “phản khoa học” (anti-science) và “ngụy khoa học” (pseudo-science). Những nhận định ấy nẩy sinh trong óc tôi một cách tự nhiên, trên cơ sở đã hiểu rõ sự thật của thuyết tiến hóa. Vì thế tôi rất tâm đắc với bài báo của Don Boys khi ông cho biết các nhà sinh học trên thế giới cũng có những nhận định tương tự: nhà sinh học người Thụy Điển Soren Lovtrup nói thuyết tiến hóa là phản khoa học, trong khi nhà sinh học nổi tiếng người Pháp là Pierre Paul Grassé nhận định thuyết tiến hóa là ngụy khoa học. Khi tư tưởng gặp nhau, người ta có thêm sức mạnh để tin rằng suy nghĩ của mình là đúng. Đó là cảm xúc của tôi khi tôi đọc bài báo của Don Boys, và tôi muốn chia sẻ cảm xúc đó với độc giả. Sau đây là bản lược dịch bài báo. Đôi chỗ tôi chỉ dịch ý, thay vì dịch từng chữ, hoặc lược bỏ vài chi tiết vụn vặt không cần thiết, hoặc bổ sung ngoặc đơn để giải thích thêm, ký hiệu ND là ý kiến của người dịch.

    THUYẾT TIẾN HÓA LÀ MỘT TRÒ HỀ, MỘT SỰ LỪA GẠT, MỘT SỰ GIẢ MẠO, VÀ MỘT ĐỨC TIN!

    Bài của TS Don Boys trên trang mạng ctsnews.com

    Tiến sĩ David Kitts, giáo sư địa chất tại Đại học Oklahoma, nói: “Thuyết tiến hóa đòi hỏi phải có các sinh vật trung gian chuyển tiếp giữa các loài nhưng cổ sinh học không cung cấp bằng chứng của những sinh vật trung gian đó …”. Lord Zuckerman thừa nhận không có “dấu vết hóa thạch” của những biến đổi từ một loài giống khỉ đến con người! Thậm chí Stephen J. Gould, GS Đại học Harvard, thừa nhận “Các mẫu hóa thạch với những chuyển tiếp đột ngột của nó không ủng hộ sự tiến hóa dần dần từng tí một”. Tôi cho rằng tất cả các giáo sư đại học đều biết Darwin đã thừa nhận một thực tế tương tự. (Tôi cũng cho rằng họ biết Darwin đã không được đào tạo để trở thành một nhà khoa học, mà để thành một nhà quản lý, do đó các nhà tiến hóa đang thờ phụng dưới chân của một nhà thuyết giáo bỏ đạo!)

    Chuyên gia hóa thạch nổi tiếng Niles Eldredge thú nhận: “… các nhà địa chất đã tìm thấy các lớp đá của tất cả các nhóm sinh vật trong 500 triệu năm qua và không hề thấy những sinh vật chuyển tiếp trung gian trong các lớp đá đó”. Tiến sĩ Eldredge nói thêm: “… chưa có ai tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào của các sinh vật chuyển tiếp như vậy”.

    Tất cả những hóa thạch chuyển tiếp từng được viện dẫn như những bằng chứng của tiến hóa, mà các nhà tiến hóa một thế hệ trước đây rất quen thuộc, nay lại đang làm cho họ bối rối. Thật đau lòng.  Archaeopteryx hóa ra chỉ là một loài chim, thay vì hóa thạch của một loài trung gian (từ bò sát lên chim như các nhà tiến hóa nói, ND). Loạt ngựa nổi tiếng mà đến nay vẫn còn tìm thấy trong một số sách giáo khoa và viện bảo tàng đã được “loại bỏ” và được coi như một “bóng ma” và “ảo tưởng” vì nó không phải là bằng chứng của sự tiến hóa. Thực ra, con ngựa đầu tiên trong loạt ngựa này không còn được coi là một con ngựa! Và khi một con ngựa không còn được coi là một con ngựa thì chúng ta đã gặp phiền toái, thực sự phiền toái ngay tại đây, ở River City

    Liên quan đến hóa thạch chuyển tiếp, nhà cố sinh học nổi tiếng thế giới Colin Patterson thừa nhận rằng “không hề có một hóa thạch nào như vậy để mà nhờ nó người ta có thể tạo ra một lập luận vững chắc”. Không có một hóa thách nào cả.

    Đối với tôi, chắc chắn không cần phải nhắc nhở các giáo sư đại học rằng Người Piltdown là một vụ lừa đảo hoàn toàn và Người Nebraska hóa ra chỉ là một con lợn, không phải một người vượn (như thuyết tiến hóa từng rao giảng, ND)! Và trong những năm gần đây, chúng ta đã phát hiện ra rằng người Neanderthal chỉ đơn giản là một người đàn ông bị còi xương và viêm khớp, không phải một “người vượn” như mong muốn. Tôi có cần tiếp tục dẫn chứng không? Sự thật là chỉ có thằng ngu mới nói thuyết tiến hóa là một sự thật như lực hấp dẫn, và việc đánh đồng các nhà khoa học theo thuyết sáng tạo với những người coi trái đất là phẳng như nhiều nhà tiến hóa thường làm là một việc cực kỳ vô trách nhiệm.

    3e9ff51b2eed2a745e9b3e9fdc43a50aHình bên: Nếu thuyết tiến hóa đúng, vậy hàng triệu sinh vật trung gian biến đi đâu?

    Tiến sĩ Pierre Grassé, nhà sinh học được xem như lớn nhất của Pháp đang còn sống, đã viết một cuốn sách để “mở một cuộc tấn công trực diện vào tất cả các hình thái của Học thuyết Darwin”. Grassé không phải là một kẻ cuồng tín tôn giáo, vậy mà ông gọi thuyết tiến hóa là một thứ “ngụy-khoa-học” (pseudo-science).

    Tiến sĩ Soren Lovtrup, Giáo sư sinh lý động vật học tại Đại học Umea ở Thụy Điển viết: “Tôi nghĩ không ai phủ nhận rằng sẽ là một bất hạnh lớn nếu toàn bộ một chi nhánh của khoa học bị tiêm nhiễm một lý thuyết sai lầm. Nhưng đây là điều đã xảy ra trong sinh học: trong một thời gian dài cho đến nay người ta vẫn thảo luận về vấn đề tiến hóa trong những từ vựng đặc biệt kiểu Darwin… từ đó họ tin rằng họ đang đóng góp vào việc giải thích các sự kiện tự nhiên”. Ông tiếp tục nói: “Tôi tin rằng một ngày nào đó câu chuyện hoang đường của Darwin sẽ được xếp hạng như sự lừa gạt vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học”. Ông tuyên bố: “Thuyết tiến hóa là phản khoa học” (Evolution is anti-science). Và đúng là như vậy.

    Liệu những người đang dạy thuyết tiến hóa có biết rằng các nhà khoa học coi Học thuyết Darwin như một “phỏng đoán” dựa trên niềm tin, tương tự như lý thuyết về “những con người bé nhỏ mầu xanh lá cây”,…  và như một “chuyện hoang đường” không. Những bạn như thế cần biết rằng các nhà tiến hóa không muốn các nhà khoa học theo thuyết sáng tạo gây khó khăn cho họ.

    pierre-paul_grasse-2-copyHình bên: GS Pierre Paul Grassé, nhà sinh học lớn nhất của Pháp hiện còn sống, tuyên bố: “Bất kể đột biến có thể xảy ra nhiều đến đâu, chúng không hề tạo ra một dạng tiến hóa nào cả!”.

    Tiến sĩ Wilder-Smith, nhà khoa học Thụy Sĩ nổi tiếng thế giới vừa qua đời, với ba bằng tiến sĩ khoa học và được coi là một chuyên gia của Liên Hiệp Quốc, sau khi nhìn thấy dấu vết hóa thạch của khủng long và dấu vết của con người cách nhau chỉ vài inches ở Glen Rose, Texas, đã thú nhận rằng “… tất cả điều này làm cho thuyết tiến hóa là bất khả thi (impossible)”. Và đúng là như vậy.

    Tôi đã giả định rằng các giáo sư đại học đã quen thuộc với tất cả các nhà khoa học nổi tiếng thế giới mà tôi đã trích dẫn ở trên. Tất cả bọn họ! Nếu không, họ sẽ thực sự không hiểu rõ cuộc thảo luận về tiến hóa / sáng tạo, và như thế thì họ nên đứng ngoài cuộc thảo luận này đến khi nào họ dành thời gian để mang lại cho họ đủ kiến thức cập nhật.

    Vì vậy, bạn sẽ thấy các nhà tiến hóa là không trung thực hoặc thiếu kiến thức khi cho rằng những người theo thuyết sáng tạo là những kẻ cuồng tín xa lạ. Thực tế, hơn một nghìn nhà khoa học có trình độ cao đã tập hợp lại thành một nhóm đại diện cho các nhà khoa học có quan điểm sáng tạo chống lại sự phỏng đoán của thuyết tiến hóa.

    Các giáo sư đại học đúng khi nói rằng cuốn sách của Darwin không đề cập đến vấn đề nguồn gốc sự sống, mặc dù tiêu đề đầy đủ của nó là “Nguồn gốc các loài bằng các phương tiện của chọn lọc tự nhiên hoặc sự Bảo tồn các chủng loài có ưu thế hơn trong cuộc đấu tranh sinh tồn”. Vậy một cuốn sách về nguồn gốc các loài nhưng lại không nói đến nguồn gốc sự sống! Sau này Darwin cho rằng sự sống bắt đầu từ một cái ao nhỏ ấm áp, nhưng ông không bao giờ nói cái ao ấy đến từ đâu! Hầu hết các nhà tiến hóa cũng dạy học trò rằng cuộc sống bắt đầu từ cái ao ấm áp đó, nhưng các nhà khoa học đã chứng minh một cách thuyết phục rằng sự hình thành sự sống tự phát là không thể xảy ra. Vậy tia lửa đầu tiên của sự sống đến từ đâu? Bạn nghĩ có thể Thiên Chúa can thiệp chăng?

    Và có nên nhắc nhở mọi người rằng Darwin và những người đi theo ông là những kẻ phân biệt chủng tộc tin rằng người da đen gần với người vượn hơn người da trắng không? Thomas Huxley, Henry F. Osborne, Giáo sư Edwin Conklin và một số người khác từng thuyết giảng về tính ưu việt của người da trắng – chỉ vì định kiến về tiến hóa của họ. Một trăm năm sau Darwin, những kẻ mang lòng thù ghét do chịu ảnh hưởng bởi Darwin có thể kể đến bắt đầu từ Nietzsche, kẻ đã tuyên bố rằng Chúa đã chết, kêu gọi việc gây giống một chủng tộc thượng đẳng và tiêu diệt hàng triệu người bị coi là yếu kém, được Hitler và Mussolini theo đuổi,… Việc giảng dạy về tiến hóa đã gây ra việc tắm máu trên các mảnh đất Âu Châu. Sau hết, các nhà tiến hóa nói với chúng ta rằng con người chỉ hơn con vật chút xíu thay vì chỉ kém các thiên thần chút xíu như Kinh Thánh dạy, vì thế một vài triệu sinh mạng có gì mà phải quan tâm?

    Tôi không có chỗ để đề cập đến hàng đống vấn nạn mà các nhà tiến hóa gặp phải, chẳng hạn như Đinh luật thứ nhất và Định luật thứ hai của nhiệt động lực học, nguồn gốc của vũ trụ, sự khởi đầu của sự sống từ vật chất không sống, vụ nổ Cambri, v,v.

    Thuyết tiến hóa chỉ là một phỏng đoán, một suy đoán, một giả thuyết, một lý thuyết, một niềm tin. Vâng, thuyết tiến hóa là một tôn giáo như tôi đã trình bày trong cuốn sách của tôi nhan đề “Evolution: Fact, Fraud or Faith?” (Thuyết tiến hóa: Sự thật hay Lừa đảo, hay đức tin?). Và, vì nó là một đức tin, nó không nên được giảng dạy trong các trường công. Ít nhất, bất kỳ một người biết suy nghĩ và chính trực nào cũng sẽ đồng ý rằng nếu nó được dạy thì thuyết sáng tạo mang tính khoa học cũng nên được dạy song song với nó. Tóm lại, chúng ta tin vào sự công bằng và ngay thẳng, không thiên vị, đúng không?

    evolution-don-boysHình bên: Sách của Don Boys: “Thuyết tiến hóa, sự thật, lừa gạt hay đức tin?”

    Thật thú vị khi thấy ở Dayton những kẻ đạo đức giả trong tổ chức ACLU (tổ chức từng tài trợ để bênh vực John Scopes trong Vụ án Scopes) nằng nặc cho rằng chỉ có một lý thuyết về nguồn gốc sự sống là hợp pháp để giảng dạy ở Tennessee [1]. Điều đó là không công bằng. Vâng, bây giờ họ đang nắm được hệ thống giảng dạy, và họ yêu cầu giữ cái độc quyền tương tự như cái độc quyền mà họ từng lập luận để chống lại trong vụ án Scopes trước đây. Khi tôi đề nghị ACLU ủng hộ dự luật của tôi tại Quốc hội Tiểu bang Indiana đòi các trường học trong tiểu bang cho dạy cả Lý thuyết về sự sáng tạo mang tính khoa học song song với thuyết tiến hóa, họ đã từ chối! Thật ngạc nhiên hết chỗ nói. Tôi nghĩ rằng những tư tưởng khác nhau nên được trình bày cho sinh viên để sinh viên có thể tự hình thành nên tư duy của mình. Phải chăng các nhà tiến hóa không tin chắc vào niềm tin của họ như họ từng tỏ ra tin tưởng? Tôi nghĩ vậy. Họ giống như một anh mù trong một tầng hầm tối đang tìm kiếm một con mèo đen mà nó không có ở đó [2].

    Xin lỗi các giáo sư, tiến hóa KHÔNG phải một sự thật. Đó là một sự lừa gạt, một sự giả mạo, một trò hề và một đức tin. Những người nộp thuế (người đóng góp xây dựng đất nước, ND) nên yêu cầu (ngành giáo dục, ND) không được giảng dạy tôn giáo về tiến hóa trong nhà trường đến khi nào học thuyết về sự sáng tạo có căn cứ khoa học cũng được đưa vào giảng dạy.

    Bình luận của PVHg’s Home

    soren-lovtrup

    Hình bên: Tuyên bố của Soren Lovtrup, nhà sinh học Thụy Điển: “Tôi tin rằng một ngày nào đó chuyện hoang đường của học thuyết Darwin sẽ được xếp hạng như sự lường gạt vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học”.

    Trong vật lý học có một lý thuyết nổi tiếng, đó là “Lý thuyết M” (M Theory), một lý thuyết được mô tả bởi một loạt tính từ có chữ cái đầu tiên là M: Matrix (ma trận), Magic (huyền ảo), Mystery (bí mật), “Membrane” (màng). Đó là một lý thuyết do Edward Witten nêu lên nhằm thống nhất các biến thể của Lý thuyết Siêu dây, trong đó ứng dụng toán học ở mức vô cùng rắc rối khó hiểu, và đến nay không có cách nào kiểm chứng, vì nó vượt ra khỏi cái không thời gian mà con người và máy móc có thể quan sát.

    Nay, với cách mô tả của Tiến sĩ Don Boys, thuyết tiến hóa có thể được xem như “Lý thuyết F” (F Theory): Farce (trò hề), Fraud (lừa gạt), Fake (giả mạo), Faith (đức tin). Bạn có tán thành với cách mô tả của Don Boys hay không, điều này tùy thuộc vào hiểu biết của bạn về sự thật của thuyết tiến hóa.

    Riêng tôi, với những gì tôi ĐÃ biết về sự thật của thuyết tiến hóa, tôi thấy mô tả của Don Boys hoàn toàn đúng.

    • Thuyết tiến hóa là một lý thuyết lừa gạt (Fraud), vì nó khoác bộ mặt khoa học để thu phục nhân tâm nhưng thực chất nó phản khoa học (anti-scientific), đúng như nhận định của nhà sinh học Thụy Điển Soren Lovtrup. Nhà sinh học Pháp Pierre Grassé cũng gọi nó là một lý thuyết ngụy khoa học (pseudo-science).
    • Thuyết tiến hóa là một lý thuyết giả mạo (Fake) vì nó đã tạo ra một loạt bằng chứng giả mạo hòng chứng minh cho sự tiến hóa. Bằng chứng giả mạo nổi tiếng nhất là “Người Piltdown”. Còn hoàng loạt bằng chứng giả mạo khác. Sự thật này đến nay vẫn bị che đậy giấu diếm tại các nhà trường và trên các phương tiện truyền thông chính thức. Vì thế rất nhiều người cho đến nay vẫn bị đánh lừa. Giới tiến hóa sợ nhất việc công bố công khai những vụ lừa đảo này. Tôi tin chắc rằng nếu nhân loại công tâm công bố công khai tất cả những vụ lừa đảo này tại mọi trường học và mọi kênh truyền thông thì thuyết tiến hóa sẽ sụp đổ ngay lập tức.
    • Thuyết tiến hóa chỉ là một niềm tin (Faith) giống y như một niềm tin tôn giáo, vì nó chỉ dựa trên niềm tin vào những gì Darwin nói, ngoài ra tuyệt đối vô bằng chứng. Không có một hóa thạch nào chứng minh sự tiến hóa của loài này thành loài khác. Không có một hóa thạch nào chứng minh sự tiến hóa từ vượn lên người. Tất cả những bằng chứng của thuyết tiến hóa được nêu lên và được đưa vào sách giáo khoa sinh học từ trước đến nay, nay đã bị vạch trần là SAI, hoặc giả mạo. Niềm tin của tôn giáo tiến hóa hiện nay đang lung lay đến tận gốc, đến nỗi nhiều nhà tiến hóa cuống lên cãi rằng vấn đề nguồn gốc sự sống không nằm trong thuyết tiến hóa, thậm chí vấn đề nguồn gốc loài người cũng không nằm trong thuyết tiến hóa. Thật nực cười!
    • Với tất cả những gì đã nói ở trên, một lý thuyết phản khoa học nhưng lại ngụy khoa học khéo léo đến mức trở thành một lý thuyết chính thống trong khoa học thì quả thật đó là một trò hề ─ một trò hề của khoa học và một trò hề về trí khôn của con người. Theo thăm dò của Viện Gallup năm 2014, chỉ có 19% người được hỏi tin vào thuyết tiến hóa, mặc dù tất cả những người được hỏi đều đã học qua môn sinh học tiến hóa ở nhà trường. Tại sao một môn học bắt buộc phải học, bắt buộc phải tin, nhưng phần lớn mọi người lại không tin? Làm thế nào để giải thích mâu thuẫn này? Chỉ có thể lý giải theo hai cách: Một, thuyết tiến hóa là một trò hề (Farce), như Don Boys nói; Hai, thuyết tiến hóa là cái ngu của kẻ lắm chữ (learned fools), như Voltaire từng phàn nàn: “Kẻ ngu lắm chữ còn ngu hơn kẻ ngu vô học”.

    evolution-theoryHình bên: Hình ảnh giả mạo của thuyết tiến hóa

    Có một ý kiến của Don Boys cần nhấn mạnh, đại ý rằng nếu các nhà tiến hóa hay những người muốn biện hộ cho thuyết tiến hóa muốn tranh luận về tiến hóa/sáng tạo thì trước hết hãy cố gắng chịu học hỏi, tìm hiểu xem tại sao những nhà sinh học bậc thầy mà Don Boys đã dẫn trong bài, lại không tin hoặc phủ nhận thuyết tiến hóa như thế. Chẳng hạn, hãy liên lạc với những nhà sinh học nổi tiếng như Pierre Grassé ở Pháp hay Soren Lovtrup ở Thụy Điển, hỏi xem tại sao họ coi thuyết tiến hóa là phản khoa học hay ngụy khoa học. Nếu thuyết tiến hóa đúng thì hãy tranh luận với họ. Nếu không làm được việc ấy thì đừng tranh luận làm gì. Nếu tranh luận mà bo bo giữ lấy mấy cái lý thuyết cũ rích được dạy ở nhà trường thì sẽ bị coi là không hiểu biết gì cả, vì các bằng chứng tiến hóa đến hôm nay tuyệt nhiên không còn nữa rồi. Những bằng chứng trong sách giáo khoa đã bị chứng minh là SAI, hoặc giả mạo, không còn có giá trị gì nữa. Hãy tỉnh thức, nếu không thì sẽ rơi vào tình trạng tự mình lừa dối mình đấy.

    PVHg, Sydney 07/10/2016

    CHÚ THÍCH:

    [1] ACLU, viết tắt của “American Civil Liberties Union”, tạm dịch là “Liên đoàn quyền tự do công dân Mỹ”, là một tổ chức phi đảng phái, phi lợi nhuận, tự tuyên xưng sứ mệnh là “bảo vệ và giữ gìn các quyền cá nhân và quyền tự do được đảm bảo cho mọi người ở Mỹ bởi hiến pháp và các điều luật của nước Mỹ.

    [2] Khổng tử từng nói “Việc khó nhất là tìm con mèo đen trong buồng tối, nhất là khi nó không có ở đó”.

     

    Nguồn: www.viethungpham.com

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang