Ứng phó thiên tai: giải pháp cần có chiều sâu

25/12/2017 14:45

(kbchn) - Công cuộc công nghiệp hoá của nhân loại đã tạo ra biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu, Việt Nam không là ngoại lệ. Chưa bao giờ thời tiết, thiên tai lại có những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường như ngày nay. Sự đỏng đảnh của thiên tai đến mức cực đoan khiến chúng ta cần phải có những giải pháp ứng phó có chiều sâu, đặc biệt là với các hoạt động của ngư dân ven biển.

(Please roll down for English version)

Để bạn đọc hiểu rõ hơn về công tác dự phòng và ứng phó với thiên tai, KCB hải ngoại đã có cuộc gặp và trao đổi với ông Trần Quang Hoài, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống Thiên tai, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai về đề tài này:

ông Trần Quang Hoài - Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống Thiên tai

  • Phòng chống thiên tai đã được nhà nước VN quan tâm thế nào thưa ông?

Là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu, hàng năm Việt Nam phải hứng chịu nhiều loại hình thiên tai, với cường suất lớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Đã có những giải pháp được triển khai trên phạm vi cả nước để ứng phó và giảm nhẹ thiệt hại do thời tiết, tTổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống Thiên taihiên tai gây ra.

Phòng, chống thiên tai luôn được Nhà nước VN hết sức quan tâm, chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, góp phần ổn định sản xuất, đời sống nhân dân, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Đến nay, đã xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức quản lý nhà nước, chỉ đạo điều hành công tác phòng, chống thiên tai từ Trung ương đến địa phương. Trong đó, đã thành lập Tổng cục Phòng, chống thiên tai kiêm Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai. Cùng với đó, từng bước phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống thiên tai, đê điều trên phạm vi toàn quốc.

Cùng với các bộ, ngành, địa phương và người dân, chúng ta đã gây dựng, vận hành nền tảng hạ tầng kỹ thuật, công trình phòng chống thiên tai khắp các vùng miền của tổ quốc, trong đó phải kể đến: 5.212km đê sông; 2.681km đê biển; 743km kè; 1.686 cống; 25.960km đê và bờ bao chống lũ, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương; 6.648 hồ chứa thủy lợi có dung tích trên 50.000m3 với tổng dung tích khoảng 12,5 tỷ m3 và 56 hồ thủy điện bậc thang với tổng dung tích phòng lũ là 9,35 tỷ m3; 110 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn; trên 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới, tiêu lớn, 234.000km kênh mương.

Với ngư dân ven biển, VN đã xây dựng 42 khu neo đậu, trong đó có 13 khu cấp vùng, với công suất 31.150 tàu neo đậu. Cùng với đó là xây dựng hệ thống thông tin liên lạc và định vị cho 11.400 tàu cá đánh bắt xa bờ với công nghệ hiện đại như: hệ thống Movima, hệ thống trạm bờ.

  • Những chính sách này đã được thể chế hoá thế nào thưa ông?

Để những chủ trương chính sách của Nhà nước đi vào đời sống, VN đã hình thành hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách tương đối đầy đủ với Luật Phòng, chống thiên tai, Luật Đê điều; văn bản dưới luật, cơ chế chính sách như: Quỹ phòng, chống thiên tai, chính sách bố trí dân cư các vùng thiên tai; Chính sách hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai,…; Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia; Xây dựng Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai và đang tiếp tục điều chỉnh Chiến lược đến năm 2025, tầm nhìn 2030 cho phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xã hội hiện nay.

Đã xây dựng cơ sở dữ liệu thiên tai quốc gia trên bản đồ trực tuyến, các công cụ hỗ trợ ra quyết định như: Theo dõi, giám sát thiên tai bằng hình ảnh; Giám sát tàu thuyền hoạt động trên biển qua vệ tinh; Quản lý lũ tổng hợp,… Trong đó đã sử dụng công nghệ bay chụp thu thập thông tin về thiên tai như đã thực hiện trong các trận lũ quét, sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập lụt, bão số 10 vừa qua.

  • Để những tinh thần của Luật được đi vào đời sống của mỗi người dân, VN đã làm gì thưa ông?

Trên cơ sở của Luật đã ban hành, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống Thiên tai, đã triển khai nâng cao nhận thức cộng đồng, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại 1.900 xã/6000 xã thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai; Xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai tại 1.320 xã; Đào tạo được 1.475/1.439 giảng viên cấp tỉnh, biên soạn và chuyển giao 24.023 tài liệu đào tạo, tập huấn cho địa phương, cơ quan liên quan; Tuyên truyền, phổ biến 50 phim ngắn trên các kênh truyền hình; Xây dựng tiêu chí nông thôn mới về phòng chống thiên tai; Rà soát nhà ở an toàn trước thiên tai.

Trên bình diện quốc gia, chúng ta đã tích cực và chủ động tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực về phòng tránh thiên tai. Chúng ta cũng ghi nhận sự giúp đỡ của các quốc gia trên thế giới, các quốc gia trong khu vực ASEAN nhất là Nhật Bản, Đức, Hà Lan,…, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nhất là: Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Châu Á, Liên hợp Quốc, … trong việc hỗ trợ Việt Nam về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, triển khai các hoạt động thí điểm, giúp chúng ta từng bước định hình chiến lược phát triển cho công tác phòng, chống thiên tai trong từng giai đoạn.

  • Những nỗ lực về phòng chống thiên tai đã mang lại hiệu quả thế nào thưa ông?

Thiên tai ngày càng khó lường hơn, nhưng nhờ những chính sách ứng phó đồng bộ và có hiệu quả nên đã góp phần giảm đáng kể thiệt hại so với giai đoạn trước; số người chết và mất tích bình quân năm trong 5 năm 2011-2015 là 226 người/năm, giảm 53% so với giai đoạn 2006-2011. Hầu hết các trận bão, áp thấp nhiệt đới gần đây đã không có người chết trên biển, trên tàu thuyền neo đậu ở bến.

Với quy mô dân số và nền kinh tế tăng nhanh, yêu cầu bảo đảm an toàn trước thiên tai của xã hội ngày càng cao. Với dân số gần 95 triệu người, tổng sản phẩm quốc nội xấp xỉ 200 tỷ USD, nếu thiên tai lấy đi 1% GDP tức là chúng ta đã mất đi 2 tỷ USD, chưa kể các hệ lụy để lại lâu dài.

  • Để đối phó với những hệ luỵ lâu dài của thiên tai, cần có giải pháp gì thưa ông?

Với tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng làm cường độ thiên tai trung bình có xu thế gia tăng, tần suất thiên tai lớn xuất hiện dày hơn, xuất hiện nhiều đợt thiên tai cực đoan trái so với quy luật trước đây. Theo kịch bản nước biển dâng lên 1m vào cuối thế kỷ, cùng với đó là lún sụt đất, sẽ có 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, 2,5% diện tích thuộc các tỉnh miền Trung và 20% diện tích TP.HCM có nguy cơ bị ngập.

Trước những thách thức đó, Tổng cục Phòng, chống thiên tai xác định cần tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai để phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống thiên tai, trong đó, không chỉ chủ động phòng ngừa thiên tai, nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản mà còn lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện kiểm soát an toàn thiên tai; điều chỉnh cơ cấu sản xuất phù hợp với khả năng, xu thế diễn biến thiên tai và điều kiện của từng vùng, địa phương.

Cùng với đó là việc ứng phó thiên tai theo chiều sâu, nâng cao năng lực của toàn xã hội, nhất là của chính quyền các cấp, cộng đồng doanh nghiệp, người dân. Người dân chủ động thực hiện phòng, chống thiên tai với sự hỗ trợ về thông tin cảnh báo, chỉ dẫn phòng, tránh của chính quyền các cấp. Thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy phòng, chống thiên tai, bảo đảm tính chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật.

Cám ơn ông!

P.T.H. (thực hiện)

 

DISASTER RESPONSE: INTENSIVE SOLUTIONS NEEDED

The industrialization process has resulted in climate change on a global scale, and Vietnam does suffer from it. Never before have natural disasters been so complicated and unpredictable like they are today. Extreme weather conditions require us, especially coastal residents, to put forth intensive response solutions.

 

To give readers further insights into disaster prevention, preparedness and response, the Overseas Vietnamese Media Agency had an interview with Tran Quang Hoai, Standing Member of the Central Steering Committee for Natural Disaster Prevention and Control and General Director of the Directorate for Natural Disaster Prevention and Control on this issue.

How much does the Government of Vietnam care about natural disaster prevention and control?

As a country which is severely affected by climate change, every year, Vietnam suffers from various types of natural disasters in high frequency. Their destructive power is increasing, causing serious damage to human beings and their property. Some solutions are about to be taken on a national scale to cope with and mitigate the consequences of natural disasters.

With much attention to natural disaster prevention and control, the Government of Vietnam has directed many synchronous solutions to stabilize production and people’s lives and to ensure rapid, sustainable development for the country. State management agencies have been founded and developed, directing natural disaster prevention and control at both central and local levels, for example the Directorate for Natural Disaster Prevention and Control cum the Standing Office of the Central Steering Committee for Natural Disaster Prevention and Control. In addition, specialized workers nationwide have been equipped with professional knowledge and skills.

Relevant ministries, sectors, localities and people have built and operated the technical infrastructure and works in service of natural disaster prevention and control all across the country, including 5,212 km of river dykes; 2,681 km of sea dykes; 743 km of embankments; 1,686 drains; 25,960 km of dykes and embankments to prevent floods and salinization in the Mekong River Delta and vulnerable localities; 6,648 reservoirs with a capacity of over 50,000 cubic meters, totaling about 12.5 billion cubic meters, and 56 terraced reservoirs with a total flood prevention capacity of 9.35 billion cubic meters; 110 medium and large irrigation systems; over 10,000 large electric pump stations, 5,500 large irrigation ditches, and 234,000 km of canals.

To serve coastal fishermen, Vietnam has built 42 anchorage areas, including 13 regional areas with a capacity of 31,150 ships, and equipped 11,400 offshore fishing vessels with a communication and positioning system and modern technology, for example the Movima system and the shore station system.

How have the State policies on natural disaster prevention and control been institutionalized?

To bring the State policies on natural disaster prevention and control into life, Vietnam has built quite a complete legal system with the Law on Natural Disaster Prevention and Control, the Dyke Law and a number of by-laws, policies and mechanisms, for example the Fund for Natural Disaster Prevention and Control, the policies on population distribution in disaster-prone areas and disaster recovery assistance, along with national standards and regulations on natural disaster prevention and control as well as the national strategy on natural disaster prevention and control, which is being adjusted for 2025, with a vision to 2030, to suit the current climate change conditions and the socio-economic development of Vietnam.

Furthermore, Vietnam has built an online national disaster database and put into operation many decision support tools, including the ones that allow disaster monitoring and supervision via images, supervision of ships and boats at sea via satellite and integrated flood management, which employ the aerial photography technology to collect information on natural disasters. This technology was used to collect information on the recent flash floods, landslides, river bank erosion, floods and storms, and most recently the storm No. 10.

What actions has Vietnam taken so far to ensure that the Law on Natural Disaster Prevention and Control enters the lives of the people?

The Central Steering Committee for Natural Disaster Prevention and Control has made efforts to raise public awareness of natural disaster prevention and control and promote community-based disaster risk management in 1,900 communes out of the 6,000 communes regularly affected by natural disasters; sketched out disaster risk maps in 1,320 communes nationwide; trained 1,475 out of the 1,439 provincial trainers, compiled and transferred 24,023 training materials to relevant localities and agencies; popularized 50 short films on natural disasters on different television channels; put forth new rural criteria for natural disaster prevention and control; and carefully checked the safety of houses before natural disasters.

From a national perspective, Vietnam has proactively taken part in both international and regional organizations and forums on natural disaster prevention and control. Our country has received enthusiastic support from many countries around the world and in the Southeast Asian region, especially Japan, Germany and the Netherlands. Moreover, international organizations and NGOs, especially the World Bank (WB), the Asian Development Bank (ADB) and the United Nations (UN), have provided Vietnam with valuable financial, technical and technological support and helped with the implementation of pilot activities, thus enabling Vietnam to gradually build its development strategy on natural disaster prevention and control for different stages.

What effects have been generated by Vietnam’s efforts to prevent and control natural disasters?

Natural disasters are increasingly predictable. However, thanks to the synchronous and effective response policies of Vietnam, the damage caused by natural disasters has been significantly reduced. The average annual number of deaths and disappearances during the 5 years between 2011 and 2015 was 226, a decrease of 53% against the 2006-2011 period. Most of the recent storms and tropical depressions haven’t caused loss of human lives at sea and on boats or ships anchored at the wharf.

The growing population and economy of Vietnam require higher safety against natural disasters. With a population of nearly 95 million and the GDP of approximately USD200 billion, if natural disasters take away 1% of our GDP, we will lose USD2 billion, not to mention the long-term consequences.

What solutions should be adopted to cope with the long-term consequences of natural disasters?

Under the impact of climate change and sea level rise, natural disasters tend to increase in terms of intensity and frequency with irregular extreme weather conditions. If sea level rises 1 m by the late 21st century and is accompanied by land subsidence as expected, 39% of the area of the Mekong River Delta, over 10% of the Red River Delta, 2.5% of the area of the Central provinces and 20% of the area of HCMC will be in danger of being flooded.

In face of those challenges, the Directorate for Natural Disaster Prevention and Control affirmed the necessity of proposing the Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD) and the Central Steering Committee for Natural Disaster Prevention and Control to work closely with relevant ministries, sectors and localities to carry out synchronous natural disaster prevention and control solutions in order to reduce the damage to human beings and their property. Besides, it is essential to integrate natural disaster prevention and control into the socio-economic development planning, ensure safety during natural disasters and adjust the production structure according to the national capacity, the trend of natural disasters and the conditions of each region and locality.

Furthermore, it is necessary to adopt intensive solutions and improve the capacity of the whole society, especially of the governments at all levels, the business community and the people. The people should proactively prevent and control natural disasters with the warnings and instructions of the authorities at all levels. In addition, the natural disaster prevention and control apparatus should be regularly improved and professionalized on the basis of hi-tech application for higher efficiency.

Thank you!

P.T.H.

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

;
lên đầu trang